1. HẢO HÁN VÕ TÒNG

Thủy hử kể về các anh hùng hảo hán sử dụng vũ khí đôi, hầu hết đều mang ý nghĩa ẩn dụ. Với song phủ của Lý Quý là chỉ cái ác toàn diện, chém giết bằng cả hai tay. Nhất trượng thanh là con thanh xà dài một trượng, nên Hổ Tam Nương dùng song đao tượng trưng cho đôi nanh độc, ta còn nhớ Hổ Tam Nương còn một vũ khí là sợi gấm hồng chuyên quăng để quấn bắt đối thủ, đó cũng là ám chỉ rắn quăng mình quấn siết con mồi. Song thương của Đồng Bình thì mang ý giễu nhại hơn: “Đổng Bình vào tới thành, vội vàng chạy đến phủ đường, giết chết cả nhà Trình Vạn Lý và cướp lấy người con gái.” Vậy nên song thương của chàng kỳ thực là một thiết thương, một nhục thương.

Võ Tòng thì sao?

Hai khẩu giới đao làm bằng một thứ sắt tuyết hoa rất tốt. Đôi giới đao của Võ Tòng ý nghĩa là cỗ máy sát nhân, là mười phần nhập ma, là cần tới hai lần giới sát. Cho nên cuối cùng, tác giả cho Võ Tòng bị cụt một tay, lưu lại chùa Lục Hòa tu hành, hưởng trọn tuổi trời, ý nghĩa thật rõ ràng, trả hết nghiệp rồi phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật.

Lời bình của Kim Thánh Thán nâng Võ Tòng lên tận mây xanh, hơn cả Hoa hòa thượng Lỗ Trí Thâm: “Lỗ Đạt tự nhiên là nhân vật thượng thượng, tả rõ tâm địa phúc hậu, thể cách khoái hoạt… Nhưng không biết vì sao, xem ra lại có chỗ không bằng Võ Tòng. Thiết tưởng Lỗ Đạt là hạng người tuyệt đích mà Võ Tòng lại là một bậc thiên thần” (Phép đọc – Kim Thánh Thán). Với lời bình tột bậc này, độc giả dễ dàng bị ảnh hưởng, mà coi Võ là một bậc anh hùng hảo hán phi thường, với những tích truyện đặc tả như Võ Tòng đả hổ, Võ Tòng sát tẩu, Say đánh Tưởng Môn thần…

Tinh tế mà xem thì Võ Tòng thua Lỗ Trí Thâm xa lắm. Họ Lỗ là bậc hảo hán hành hiệp trượng nghĩa, thiện ác phân minh. Những lần ra tay như Đả Trịnh Đồ, Đào Hoa thôn, Chùa Ngõa Quán, Rừng Dã Trư đều mang dấu ấn của việc cứu người nguy khốn. Ngược lại, ở Võ Tòng ta thấy thiện ác bất phân. Mọi hành động của Võ Tòng chỉ mang màu sắc cá nhân, ai tốt với Võ thì Võ tốt lại, lời Võ Tòng từng khen Tống Giang: “Ông ta là người đại trượng phu có đầu có đuôi, có sau có trước” (hồi 21), chính là lột tả quan niệm sống của chính Võ Tòng.

Cho nên giết hổ là để tự vệ, sát tẩu là trả thù riêng, đánh Tưởng Môn thần là báo ân mọn. Tôi chưa từng thấy Võ Tòng chủ động ra tay hành hiệp trượng nghĩa, thậm chí những việc sai trái mà chính Võ thực hiện cũng có thể liệt kê ra một hàng dài: Giúp quan huyện áp tải đồ hút máu mỡ của dân lên kinh đút lót, giúp Thi Ân cướp đoạt cơ nghiệp của Tưởng Môn thần, vì thù riêng giết cả nhà Trương Đô giám kể cả trẻ nhỏ, giết đứa đạo đồng vô tội ở núi Ngô Công… Hoặc thoải mái kết nghĩa huynh đệ với những phường cùng hưng cực ác như đám chuyên giết người lấy thịt làm nhân bánh bao (vợ chồng Thái viên tử Trương Thanh, Mâu Dã Xoa Tôn Nhị Nương), hay với tay chuyên thủ tiêu những tù đồ ương ngạnh (Kim nhãn bưu Thi Ân).

Dẫu vậy, mối quan tâm của tôi với Võ Tòng không nằm ở đó, mà tại phần đời trước của chàng, chậm rãi đọc từ khi đánh hổ đồi Cảnh Dương tới khi giết Tây Môn Khánh, để thấy rằng có một khoảng trống mênh mông giai đoạn trước đó.

2. QUÁ KHỨ VÕ TÒNG

Võ Tòng vốn người huyện Thanh Hà, đánh hổ rồi làm chức Đô đầu ở huyện Dương Cốc. Đô đầu là chức lại dịch, phụ trách trị an của một huyện, nên nhìn chung chỉ cần có võ nghệ nhỉnh hơn người thường một chút là đảm đương nổi. Nhưng xuyên suốt Thủy hử, đặc biệt là nửa trước cuộc đời Võ Tòng, ta thấy không chỉ chàng có võ nghệ tuyệt luân mà tâm cơ cũng rất cẩn mật, hành sự kín đáo với thủ pháp đặc biệt. Tôi không thấy chàng giống như một hảo hán giang hồ.

Đoạn miêu tả Võ Tòng đánh hổ ở đồi Cảnh Dương rất hay, hơn xa Lý Quỳ giết bốn hổ. Lý Quỳ dùng phác đao chém hai hổ con, dùng yêu đao đâm vào đít hổ mẹ, rồi lại dùng phác đao đón đà nhảy vổ của hổ cha mà giết. Còn Võ Tòng chỉ độc dùng sức lực của nắm đấm mà đánh chết con hổ lớn.

Hoặc như khi biểu hiện sức mạnh với Thi Ân, cái cối đá bốn, năm trăm cân, chàng ta “Nói đoạn liền cởi áo ngoài ra, hai tay ôm đôn đá nhắc bổng lên rồi vứt xuống đất đến thình một cái; lõm hẳn xuống đất tới một thước sâu. Bọn tù đồ đứng quanh đấy trông thấy đều lấy làm kinh sợ lạ lùng. Võ Tòng lại giơ tay phải nâng hòn đá tung lên hơn một trượng rồi ngửa tay lên hứng lấy, rồi đặt nguyên vào chỗ cũ. Đoạn rồi quay ra nhìn mọi người, nét mặt vẫn tự nhiên như thường, không có chút gì ra vẻ khó nhọc.”

Có một điều bất thường ở đây: Đó là với xuất thân của Võ Tòng, nghĩa là như câu chuyện kể rằng chàng là em của một anh lùn bán bánh bao, bị cả huyện coi thường khinh khi, thì làm sao luyện được một thân võ nghệ tuyệt luân như vậy? Các Đầu lĩnh võ nghệ trác tuyệt của Lương Sơn, ta thấy có hai dạng gia cảnh: một là nhà giàu như Lư Tuấn Nghĩa, Lý Ứng, Sử Tiến… và một là xuất thân quan quân như Quan Thắng, Lâm Xung, Lỗ Trí Thâm… tức là có điều kiện đầy đủ để tinh luyện võ nghệ, tịnh không có ai nghèo khó bần hàn mà luyện được tới mức thượng thừa, đúng như cổ nhân vẫn nói “nghèo học văn giàu học võ”. Bởi cho dù được danh sư chỉ điểm mà không có thuốc thang phục dụng, không có cá thịt bồi dưỡng, thì công phu của người luyện võ chỉ là mèo què. Cả ngày ăn bánh bao thì cái thần lực ngàn cân ấy từ đâu mà có được?

Điểm khác biệt thứ hai xuất hiện trong khi chàng giải quyết vụ Phan Kim Liên giết Võ Đại, đó không phải cách giải quyết của giang hồ hảo hán mà chắc chắn phải là người trong lục phiến môn có thâm niên.

Điểm qua khoảng thời gian Võ Tòng ăn cơm nhà nước: Khi gặp lại Võ Đại thì Võ Tòng mới nhậm chức Đô đầu “Mới đến đây được mười lăm hôm nay”, ở chung với Võ Đại hơn một tháng cho tới tháng Mười hai: “Thấm thoát hơn một tháng trời, bấy giờ vào khoảng tháng Chạp mùa đông”, dọn ra ở riêng rồi lên kinh và trở về vào đầu tháng Ba: “Khi đi trời còn tàn đông nên lạnh lẽo, đến khi trở vế đã bắt đầu sang tiết tháng Ba”. Như vậy tổng thời gian làm ở huyện Dương Cốc bất quá chỉ cỡ từ tháng Mười một tới đầu tháng Ba năm sau, vỏn vẹn bốn, năm tháng, trong đó có tới “lâu ra thì vài tháng, mà chóng ra thì độ bốn, năm mươi ngày” là đi công cán. Thế là thời gian thực học hỏi nghiệp vụ chỉ loanh quanh chừng hai tháng.

Trong khi đó, ta cùng dõi theo từng bước của chàng khi phá án:

1. Một mình tới gặp Hà Cửu Thúc, mời đi uống rượu, rồi: “Khi nhà hàng đem rượu ra, Võ Tòng ngồi lặng yên uống rượu mà không nói câu gì cả. Hà Cửu Thúc lại càng kinh sợ đổ toát mồ hôi mà không dám mở miệng hỏi. Võ Tòng cứ lẳng lặng uống rượu hồi lâu, rồi mới vén áo lấy thanh đao nhọn ra để lên trên bàn, làm cho tên nhà hàng trông thấy cũng kinh sợ không dám đến gần, mà Hà Cửu Thúc thì mặt xám lại như gà cắt tiết.” Rõ ràng chàng rất hiểu cách tấn công bằng tâm lý: chỉ im lặng, khoe vũ khí, khiến đối phương căng thẳng, không khảo mà xưng.

2. Gặp tiếp Vận Ca để lấy khẩu cung chuyện bắt gian. Với thằng nhóc này thì dùng bạc để đổi thông tin.

Sau đó dẫn hai nhân chứng tới thưa lên quan huyện. Khi huyện bác bỏ, chàng lại tiếp tục tự hành sự:

1. Vừa thiết cỗ bàn vừa cưỡng ép hàng xóm tới dự đông đủ.

2. Khiến một người viết biên bản.

3. Vừa ép vừa dọa để lấy khẩu cung

“Con cáo già công việc ta biết cả rồi, còn toan chối thế nào? Nếu không thì ta phải xả con dâm phụ nầy ra rồi sẽ giết con cáo già…

Nói đoạn liền giơ dao trước mặt chị chàng kia mà liếc đi liếc lại. Chị chàng vội kêu lên rằng: Thúc thúc tha tôi, tôi xin nói…”

4. Lấy đủ khẩu cung rồi thì giết chị dâu tế anh trai, mà giữ lại Vương bà.

5. Tìm giết Tây Môn Khánh

6. Đem thủ cấp của đôi gian phu dâm phụ Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên, dẫn theo Vương bà cùng bốn vị nhân chứng lên huyện.

Đem so sánh với Lỗ Đạt giết Trịnh Đồ, không thù không hận, mà cũng chỉ tương cho ba đấm, xong là bỏ trốn. Dương Chí nói chém Ngưu Nhị là chém, Sử Tiến báo thù cho Vương Nghĩa là sùng sục vác đao đi thẳng tới phủ tìm Hạ Thái thú… thì rõ là Võ Tòng có tính toán bài bản, việc làm cũng lớp lang đàng hoàng, không sai không sót một mảy may.

Thực tiếc cho Võ Tòng, chàng có thể giết được hổ trên đồi Cảnh Dương, nhưng không phòng được con hổ trong nhà, cũng không chống nổi con hổ nơi công môn, cho nên cuối cùng đành phải biến linh đường thành công đường.

Trường đoạn Say đánh Tưởng Môn thần cũng rất lý thú. Lần đầu tiên đọc, tôi trông chờ một hoạt cảnh thật bạo liệt khi Võ Tòng từ trong doanh chạy tới Khoái Hoạt lâm, có lẽ gặp là đánh ngay. Nhưng không, chàng thong thả la cà suốt dọc đường hết tiệm nọ tới quán kia, uống tới sương sương rồi mới tới tiệm rượu họ Tưởng. Lại từ từ gọi rượu, kiếm cớ gây chuyện với tửu bảo, rồi ghẹo vợ của Tưởng Môn thần, tức là dùng mọi thủ đoạn để Tưởng Môn thần phải ra tay trước, đã vậy còn giả say khiến họ Tưởng “khinh thị Võ Tòng còn đương say rượu, nên cứ thị hùng mà sấn vào để đánh”.

Võ Tòng đã biến một trành tranh danh đoạt lợi này thành màn hí kịch, biến một Tưởng Môn thần thành con rối tùy ý mà đùa bỡn. Cuối cùng không chỉ đánh ngã một họ Tưởng mà còn khiến hắn mất toàn bộ thể diện tại Khoái Hoạt lâm. Xong xuôi rồi mới báo danh anh hùng đánh hổ. Chỉ cần Võ Tòng còn ở đó, đảm bảo Tưởng Môn thần không dám bén mảng nửa bước tới cơ nghiệp của Thi Ân.

Giết công sai ở Phi Vân phố cũng một lần nữa gợi lên sự chú ý. Khi Thi Ân nhìn hai gã công sai khả nghi có nhắc Võ Tòng, chàng đã biết trước rồi “Bất tất phải dặn, tôi đã hiểu rồi… cho nó thêm hai thằng nữa đến đây, cũng không sợ gì chúng nó.” Thế rồi dọc đường lén tháo sẵn đinh gông, ăn trước đôi vịt để có sức lực. Khi gặp hai người cầm đao giữa đường đi theo, Võ Tòng lập tức hiểu sự tình, chàng chọn thời điểm tốt, trước tiên đánh ngã hai kẻ cầm đao, tức là những kẻ có võ nghệ và lợi khí, sau mới đuổi đánh nốt hai công sai.

Báo oán nhà Trương Đô giám, lại có một điểm đáng chú ý khác. Từ đầu chí cuối, chàng không dùng tới phác đao mà chỉ dùng yêu đao giết người “Võ Tòng lặng ngắt, dựng thanh [phác] đao vào một bên, rút dao (yêu đao) ra cầm ở tay,” đó là giết tên bồi ngựa. Rồi “đi ra cửa cầm lấy thanh đao,… rồi rút con dao còn vấy máu ở trong túi ra, đẩy cửa mở bếp mà nhảy tót vào, vớ lấy chị ả đứng ngoài đâm cho một nhát” – giết hai ả thị nữ. Sau đó, không thấy nhắc tới việc cầm phác đao lên, mà tiếp tục tìm giết Trương Đô giám, Trương Đoàn luyện và Tưởng Môn thần. Sau khi giết xong Trương phu nhân, lưỡi yêu đao đã quằn, chàng mới quay lại bếp lấy phác đao, giết nốt Ngọc Lan và mấy đứa bé con.

Tại sao tôi nói có điểm đáng chú ý?

Bạn đọc hãy coi, có vẻ như Võ Tòng không thiện dùng trường binh bằng đoản binh. Khi yêu đao hỏng thì chàng mới dùng tới phác đao. Sau này chàng cũng dùng hai khẩu giới đao (tức một loại đoản đao), chứ không phải các loại vũ khí thương đao kiếm kích giống như quan binh tiêu chuẩn. Độc giả có thể phản biện rằng võ học dân gian, thường lấy đoản binh làm chủ đạo. Nhưng ta thấy những tay cao thủ xuất thân dân dã như Lư Tuấn Nghĩa, Mục Hoằng, Sử Tiến đều là dùng trường thương, đại đao cả. Kết luận của tôi là: Võ Tòng thuở xưa được đào tạo để chuyên dùng các loại binh khí ngắn – một sát thủ, một mật vụ!

3. MẬT VỤ VÕ TÒNG

Nếu chấp nhận quan điểm lạ này, ta sẽ thấy nó khá hợp với các luận điểm đã dẫn ở trên. Có nghĩa là trước khi đánh hổ, Võ Tòng là một mật vụ (dĩ nhiên của triều đình rồi), chàng giỏi điều tra, lấy khẩu cung và thiện dùng các loại binh khí kiểu sát thủ. Quan điểm này được củng cố bằng mật ngữ mà Thi Nại Am tiên sinh cài trong lần đầu Võ Tòng gặp Tống Giang ở hồi 22: “(nguyên văn) Tiểu đệ tại Thanh Hà huyện, nhân tửu hậu túy liễu, dữ bản xứ cơ mật tương tranh…” Cụ Á Nam cũng không luận được mấy chữ “bản xứ cơ mật” là gì nên dịch rằng “Nguyên tiểu đệ khi ở Thanh Hà có cãi nhau với một anh làm việc quan…” Đại để thì cũng không quá sai, nhưng mất đi cái nghĩa cơ mật.

Tôi cũng không tra nổi bản xứ cơ mậtchính xác là nhân viên loại gì, nhưng chắc hẳn là một dạng mật vụ, mật sứ nào đó, người bản địa hoặc nằm vùng. Như vậy Võ Tòng biết anh chàng kia là mật vụ bản xứ và do rượu say nên xảy ra xung đột. Thế thì ta có thấy là thực vô lý, khi một người em của anh chàng bán bánh bao, lại quen và biết rõ thân phận của mật vụ triều đình không? Nếu ai cũng biết thân phận thực của anh ta thì còn “bản xứ cơ mật” vào đâu nữa? Không thể!

Cho nên kết luận rằng Võ Tòng cũng là một mật vụ của triều đình, chẳng phải là không có lý.

Một dẫn chứng nhỏ nữa có thể xem xét, đó là với mức độ dân trí thấp như thời nhà Tống, quan Đề hạt Lỗ Đạt hoàn toàn mù chữ như trong truyện mô tả: “Lỗ Đạt tuy không biết chữ nhưng cũng lắng tai nghe thấy người ta đọc rằng…” (hồi 2); và Trương Hoành phải nhờ thày đồ trong làng viết hộ gia thư, thì người em của anh bán bánh bao đọc yết thị của quan huyện trên đồi Cảnh Dương ngon lành, thậm chí phân biệt được “đã có ấn tín quan tư cẩn thận” thì có vẻ không hợp lý lắm.

Khi lưu đày tới Mạnh Châu, Võ Tòng nói với đám lính: “Nếu ta có kêu một tiếng cũng không phải là thằng con trai giỏi, làm việc ở đất Dương Cốc.” Nhưng khi đánh tiếng dò hỏi Tiểu Quản doanh thì lại: “Tôi đây là người huyện Thanh Hà, ông ta là người ở Mạnh Châu, xưa nay không quen biết bao giờ, mà lại xử đãi như thế?”

Nghĩa là với thường nhân thì phô cái danh hiệu Võ Đô đầu huyện Dương Cốc dễ nhận biết, còn đánh tiếng với nhà quan (hẳn Tiểu Quản Doanh đã biết Võ Tòng là Đô đầu huyện Dương Cốc rồi) thì lại lôi gốc gác cũ ở huyện Thanh Hà, như muốn ám chỉ “có phải ông ta biết tôi từng làm mật vụ huyện Thanh Hà nên đối xử đặc biệt không?”

Lại nói tới huyện Dương Cốc và huyện Thanh Hà, khi Võ Tòng giết hai mạng người rồi, Tri huyện Dương Cốc là ân quan của Võ nên sửa văn án cho nhẹ đi đã đành, tự dưng Thi Nại Am tiên sinh lại lôi ra cả Đông Bình phủ. Tri phủ Trần Văn Chiêu chẳng quen chẳng biết, cũng không có đút lót tiền nong, sai người một lần nữa sửa văn án nhẹ thêm, không những vậy còn “cắt một người tâm phúc đem mật thư vào kinh sư, để lo cứu cho Võ Tòng. Bấy giờ các quan Hình Bộ cũng nhiều người thân mật với Trần Văn Chiêu, nên khi nhận được giấy thì lập tức cho các quan Tỉnh viện kết án nhẹ đi.”

Quý vị độc giả có thấy vô lý không? Một anh Đô đầu cấp huyện, chức bé bằng hạt mè, vậy mà kinh động tới cả quan phủ, rồi quan phủ lại mất công mất của báo lên tận bộ Hình ở kinh đô. Trong Thủy hử ta thấy quan lại như Tống Giang cũng giết người, quan huyện cũng chỉ báo lên phủ Tế Châu là kết án. Việc của Võ Tòng mà kinh động lên tận cấp bộ, nói lên rằng Võ không thể là quan viên bình thường, quan phủ không dám tự tiện xét xử mà phải chờ lệnh từ trung ương. Ấy bởi Võ Tòng là mật vụ thuộc quản lý cấp cao hơn mà thôi. Và do là mật vụ ở huyện khác nên quan huyện Dương Cốc không biết.

Với một chút liều lĩnh, tôi lý giải quãng thời gian Võ Tòng ở Thương Châu với Sài Tiến. Ban đầu họ Sài coi Võ Nhị lang là thượng khách, nhưng với mối quan hệ rộng của mình, Sài Tiến sớm phát hiện ra quá khứ của Võ Tòng, liền nghi rằng chàng là gian tế mà triều đình cử tới bên mình (việc nhà Tống giám sát hậu nhân dòng dõi nhà Hậu Chu là việc bình thường), do vậy dần đối xử nhạt nhẽo, thậm chí tránh giao tiếp với Võ Tòng.

Chỉ tới khi Tống Giang tới và thân thiết cũng Võ Tòng thì mối quan hệ này mới tạm được phục hồi, và cũng bởi Tống, Võ không ở lại quá lâu chỗ Sài Tiến. Ở đoạn này ta lưu ý có một cách xưng hô mà Sài Tiến gọi Võ Tòng rất lạ: “Đại hán, ngươi không nhận ra vị Áp ty danh tiếng này ư?” “Đại hán, ngươi có biết mặt Tống Áp ty không?” “Đại hán, xa mười vạn tám ngàn dặm, gần chỉ ngay trước mắt.” Ban sơ, tôi nghĩ Thi Nại Am tiên sinh để Sài Tiến gọi Võ Tòng là “đại hán”, vì anh chàng cao to lực lưỡng, nhưng rõ ràng đại hán không phải là cách gọi phổ thông, có phần hơi miệt thị, hơi xấc.

Nhưng về sau, tôi mới biết hai chữ “đại hán” còn có nghĩa là “kẻ làm mướn – dong công” – Sài Tiến cho rằng Võ Tòng là tay sai của triều đình.

Võ Tòng

4. VÔ DANH VÕ TÒNG

Đọc lướt qua một lượt các nhân vật trong Thủy hử, tôi lại ồ lên khe khẽ, duy nhất có Võ Tòng là người khi thành danh mà chưa có ngoại hiệu. Trong Thủy hử, từ người nổi tiếng văn võ song toàn như Ngọc kỳ lân Lư Tuấn Nghĩa, hay thằng ăn trộm như Cổ thượng tảo Thời Thiên, hoặc du côn tiểu tốt như Tích sát dương Trương Bảo, Một mao đại trùng Ngưu Nhị, hay văn nhân như Trí đa tinh Ngô Dụng, Thánh thủ thư sinh Tiêu Nhương, tất tần tật ai ai cũng có ngoại hiệu cả. Duy Võ Tòng – Võ Đô đầu – Võ Nhị lang uy chấn giang hồ, lại không hề có.

Lần đầu tiên gặp Tống Giang, có vẻ như Tống Giang cũng không biết Võ Tòng là ai, nhân nghe Sài Tiến giới thiệu: “Bác nầy người ở huyện Thanh Hà, họ Võ tên Tòng, ở vai thứ hai” thì họ Tống cũng nói lời đưa đẩy, biết Võ vai thứ hai nên hàm hồ gọi là Nhị lang: “Xưa nay vẫn thường nghe tiếng Võ Nhị lang, mà ai ngờ lại vơ vẩn gặp đây”.

Độc giả có thể nghi ngờ là còn Lỗ Trí Thâm cũng không hề có ngoại hiệu cho tới khi xuất gia. Lời ấy sai rồi, Lỗ Đạt trước có biệt hiệu là Trấn Quan Tây: “Tao đây theo hầu quan Kinh lược Đại tướng, làm đến chức Quan Tây Ngũ lộ Liêm phóng sứ mới được gọi là Trấn Quan Tây”.

Dựa vào điểm này, có thể thấy hành tung của Võ Tòng trước khi đả hổ khá là kín đáo bí mật, người huyện Dương Cốc về sau cũng chỉ biết chàng là anh hùng đánh hổ mà thôi, còn quãng thời gian trước đó, tuyệt nhiên không có chút manh mối nào cả, một quá khứ bị phong ấn hoàn toàn. Mãi cho tới khi quyết định đầu nhập Nhị Long Sơn của Lỗ Trí Thâm và Dương Chí, thì chàng ta mới có một biệt danh, cũng rất đơn giản: Hành giả.

5. ÁC MA VÕ TÒNG

Nói một chút về tâm lý nhân vật. Tôi cho rằng Võ Tòng từ khi xuất hiện tại Dương Cốc, chàng mang tâm lý hệt như một sát thủ giải nghệ, khao khát có một mái ấm gia đình. Ở Võ Tòng, ta thấy chàng khao khát được gần gũi với anh trai, do có anh trai thì phải có chị dâu, nên chàng cố bằng mọi giá không làm tổn hại đến mối quan hệ ba người. Anh trai và chị dâu chết, chàng bơ vơ trống rỗng, cho nên nhanh chóng (và hơi dễ dãi) nhận Trương Thanh và Tôn Nhị Nương làm huynh tỷ kết nghĩa, tới trại Bình An một lần nữa kết nghĩa với Thi Ân, rồi sau này ở nhà Trương đô giám, ta lại thấy chàng như coi vợ chồng Trương Đô giám như bậc phụ huynh.

Chàng mơ về một cuộc sống gia đình, mơ về một Ngọc Lan xinh xắn. Trong giấc mơ đầm ấm ấy, Võ Tòng thật ngờ nghệch, hệt như Lỗ Trí Thâm ở Ngõa Quán tự. Đến khi tỉnh giấc mộng, cũng là lúc tắm máu cả nhà Đô giám.

Nếu như giết hai gã công sai và hai tên trợ thủ có thể giải thích là tự vệ chính đáng, thì việc giết sạch từ gã bồi ngựa tới hai ả thị nữ, rồi Trương phu nhân, ba người đàn bà… vốn chẳng phải những người trực tiếp hãm hại chàng, chứng tỏ họ Võ đã hoàn toàn bị máu me làm mờ mắt, không còn khí phách anh hùng của chàng trai năm xưa ở huyện Dương Cốc từng tuyên bố oan có đầu nợ có chủ. Cuối cùng khi đã hả hết oán cừu, Võ Tòng mới thở phào một tiếng “Bây giờ ta mới được vừa lòng”.

Cũng giống như Lỗ Trí Thâm ở chùa Ngõa Quán, chàng lại nói một câu y hệt: “Lương viên tuy hảo, bất thị cửu luyến chi gia” (xem giải nghĩa trong bài Lỗ Trí Thâm – Một Tôn Ngộ Không của Thủy hử) nhưng rõ ràng ý cảnh đã khác hẳn. Cả hai đều chém đứt mộng ảo trong tâm tưởng, nhưng Lỗ Trí Thâm vượt thoát khỏi vòng tục lụy, còn Võ Tòng là trực tiếp nhập ma. Đó là lý do mà Tôn Nhị Nương nói về song đao của vị đầu đà năm xưa từng giết 108 người lấy xương đỉnh đầu xâu làm tràng hạt: “Hai khẩu đao ấy đêm đêm thỉnh thoảng lại kêu”, đây là ma đao cảm nhận được tân chủ nhân.

Cơn cuồng sát của chàng kéo dài tới tận núi Ngô Công khi giết tiếp một đạo đồng vô tội, và việc giết Phi thiên ngô công Vương đạo nhân cũng hoàn toàn khác Lỗ Trí Thâm ra tay giết hai gã Thôi Đạo Thành, Khưu Tiểu Ất. Ở Võ Tòng, có cảm giác chàng giết người vì ghen tị với diễm phúc mà Vương đạo nhân được hưởng (vì sau khi hạ sát rồi thì chàng mới biết người đàn bà kia bị hiếp bách lên núi), rồi tiếp đến ở gần Khổng gia trang, chàng say rượu nhìn con chó vàng cũng ngứa mắt muốn giết. Cái sát nghiệp đã nhuốm sâu vào tâm tính chàng.

Họ Võ không có giây phút giác ngộ, tuy chàng luôn muốn phong đao quy ẩn, nên từng một mực từ chối vợ chồng Trương Thanh mà chọn sống kiếp tù đồ. Nhưng cuộc đời không buông tha chàng, vĩnh viễn Võ Nhị lang không thoát được cái thân phận sát thủ. Cho đến ngày trở nên tàn phế, đó mới chính là lần quy ẩn cuối cùng.

Rốt cuộc, tôi cho rằng vì thời trẻ đã được đào tạo để trở thành một sát thủ hay mật vụ, nên Võ Tòng có tâm cơ tinh tế vượt xa người thường. Những trò mua lòng chuộc dạ của Tống Giang không dễ che giấu được pháp nhãn của chàng. Bởi vậy, quan hệ của Tống và Võ trước ấm sau lạnh, nhạt đi một cách kinh khủng ở nửa sau của câu chuyện. So sánh với lần gặp ở chỗ Sài Tiến, lúc tái ngộ ở Khổng gia trang, ta thấy Tống Giang vẫn nhiệt tình vồn vã, mà Võ Tòng do trải đời hơn đâm ra lãnh đạm. Khi Tống Giang mở lời “Nếu Nhị đệ có lòng quy thuận triều đình, thì có phen tất trời kia trông lại mà bảo hộ giúp cho.” Võ Tòng không hề đáp lại.

Sau khi đã nếm trải mùi vị của cuộc đời cay đắng, Võ Tòng đã không còn nhìn chung hướng với Tống Giang nữa rồi. Khi chia tay, Tống lại nói thêm “Nếu sau này triều đình có giấy chiêu an, thì hiền đệ nên rủ Lỗ Trí Thâm cùng về quy phục, đem thân ra chốn biên cương để ra tài ngọn giáo thanh đao, lập chút công lao cùng xã tắc, mà hưởng sự vinh hoa, lưu danh sử sách như thế thì may ra mới khỏi uổng công một đời…” họ Võ cũng chỉ ậm ừ “cúi đầu vâng lời” chứ không tiếp lời. Thế rồi “Tống Giang gạt nước mắt không nỡ rời tay” mà Võ Tòng chỉ “tự bước về tây”. Một người muốn làm Lưu Bị, kẻ kia lại chẳng phải Triệu Vân.

Cho nên ta nói, khi đã quá hiểu bụng dạ nhau, người ta khó mà giữ được trọn vẹn tình cảm thuần khiết buổi ban sơ.

Tác giả: Nhu To

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here