林沖 tên Lâm Xung có hai chữ: Lâm (林) và Xung (沖). Lâm có nghĩa là “rừng”, còn Xung có hai nghĩa: “xông lên” và “khiêm xung” – tức là “khiêm tốn”. Lâm Xung vẫn luôn là một người quân tử khiêm tốn, thế nên dù võ nghệ siêu quần nức tiếng kinh thành nhưng ông lại lặng thinh nín nhịn khi bị một Hồng Giáo Đầu – một tay võ sư quèn nơi thôn dã khiêu khích. Nhưng kẻ “khiêm xung” ấy khi buộc phải ra tay vẫn cho người ta thấy được bản lĩnh chân thực hơn hẳn những lời khua môi múa mép. Khi Vương Luân từ chối bọn Tiều Cái ở lại Lương Sơn, Lâm Xung giết hắn chỉ vì tấm lòng trượng nghĩa đối với các anh hùng hảo hán giang hồ, chứ nào phải ham hố chức vị đầu lĩnh Lương Sơn Bạc. Có vậy mới hết sức nài ép bọn Tiều Cái cầm đầu Lương Sơn, còn mình thì sẵn sàng ngồi dưới tất cả. Võ công cái thế, cốt cách nho nhã nhưng Lâm Xung vẫn luôn là người khiêm tốn đứng sau người khác như vậy đấy.

Lâm Xung còn có tên hiệu là Báo Tử Đầu – đầu báo. Con báo có thể xông lên ở rừng sâu núi thẳm chứ không thể xông xáo ở chốn quan trường, vậy nên Lâm Xung phải nương mình nơi rừng núi Lương Sơn mà thôi. Cũng như sau này, Lâm Xung tung hoành chốn sa trường trong những trận đánh ác liệt nhất với đoàn quân của Phương Lạp nhưng lại chết trên đường về với triều đình. Con báo có thể xông lên trong rừng chứ không thể xông vào chốn công đường, nhất là nơi đó lại có con hổ ngồi đợi. Vì vậy, Lâm Xung đã bị bắt khi đi vào Bạch Hổ Đường của Cao Cầu. Lại nữa, tuy rằng báo có thể tung hoành trong rừng, nhưng khi gặp lợn lòi thì báo cũng nguy khốn, đó là lý do Lâm Xung suýt mất mạng ở rừng Dã Trư (rừng Lợn lòi) bởi hai tên công sai Đổng Siêu, Tiết Bá.

Người xưa theo văn hóa truyền thống rất cẩn trọng khi đặt tên cho trẻ nhỏ, vì tên phải phù hợp với chủ nhân của nó. Tên của một người xứng hợp với khí chất của họ và có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời người ấy. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa có nhân vật Bàng Thống, hiệu là Phượng Sồ, nghĩa là con phượng non. Phượng Sồ Bàng Thống khi theo Lưu Bị vào đánh Tây Xuyên đã chết ở gò Lạc Phượng, Lạc (落) ở đây mang nghĩa là: rụng, rơi. Bản thân Bàng Thống khi đi đến đây, nghe tên địa danh có ngay dự cảm chẳng lành nhưng đã muộn. Con chim Phượng đã trúng tên rụng xuống ở nơi này.

Từ những chi tiết nhỏ nhất là một cái tên nhân vật, các tác gia đời xưa đã hết sức dụng công như vậy, đủ thấy rằng thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong tứ đại danh tác và các tác phẩm văn hóa truyền thống là hết sức phong phú với lớp lớp nội hàm.

Lạnh căm mới biết bách tùng, gian nan mới biết anh hùng…

Trong văn hóa truyền thống, người ta hay ca ngợi những loài cây như tùng, bách hay mai trắng. Có câu: “tuế hàn, nhiên hậu tri tùng bách, tri hậu điêu dã” tạm dịch là “lạnh căm mới biết bách tùng, một mình xanh tốt tới khi đông tàn”. Những loài cây như tùng, bách, mai sở dĩ cao quý vì có thể ngạo nghễ với tuyết sương, gặp giá lạnh càng vững chãi, lá càng xanh, hoa càng đẹp. Thế nên, đó cũng là những là những loài cây tượng trưng cho người quân tử, bậc hảo hán.

Vì bậc quân tử, vị hảo hán, đấng trượng phu… cũng phải được đặt vào trong nghịch cảnh mới làm nổi bật khí chất cứng cỏi bất khuất phi thường của họ. Chẳng thế mà trong Thủy Hử, Thi Nại Am đã viết: “Ví thử đường đời bằng phẳng mãi, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Những anh hùng hảo hán có nhiều khi được đặt vào cảnh cơ hàn, không gia đình, chẳng chốn dung thân… lại dầm mình dưới mưa sa tuyết lạnh để thử khí chất của họ, so với tùng, bách, mai chẳng kém gì.

Chẳng ai xem Thủy Hử mà quên được cái cảnh Lâm Xung đến Thảo Đường lúc lưng trời mây kín, gió bấc đìu hiu, tuyết giăng ngập lối, rất chiều lạnh lẽo. Lâm Xung đầu đội nón mê, vai vác cây giáo hoa, thật là tình cảnh bốn bể không nhà, bơ vơ không chúa, thân mang tuyệt nghệ mà biết đi đâu về đâu như con thuyền không bến đợi. “Lâm Xung dày đạp đống tuyết mà đi, chẳng khác gì ngọc vỡ châu rơi ở trên đường vậy” (trích Thủy Hử).

Lâm Xung

Nhưng nếu chẳng vì gió tuyết lạnh lẽo, vách đổ tường xiêu thì Lâm Xung đã chẳng ra ngoài tìm rượu uống, mới có dịp ngang qua miếu Sơn thần đưa lời thỉnh cầu ơn trên cứu giúp, rồi lúc quay lại thấy gió thổi sập nhà mới đành đến trú tạm ở miếu Sơn thần, có vậy mới bắt được việc kẻ gian phóng hỏa, bày mưu giết mình. Mọi việc có vẻ hết sức tự nhiên mà hình như lại có sự an bài sắp đặt. Hai lần Lâm Xung vác dao đi tìm Lục Khiêm mà tìm không thấy, thế mà chính tại nơi cùng đồ mạt lộ này, lũ gian tà Lục Khiêm, Phú An đã tự dẫn xác đến trả nợ. Có phải là “trong cõi mênh mang quả có lòng Trời hay không?” Nếu chưa đến lúc thì có cưỡng cầu cũng vô ích.

Được Sài Tiến trợ giúp, Lâm Xung thoát khỏi sự truy nã của quan quân, lại dấn mình vào cảnh vạn lý độc hành trong gió tuyết căm căm, sớm nghỉ tối đi trong mười mấy ngày trời rất là buồn bã. Đến một quán nhỏ ven đường, Lâm Xung dừng chân nghỉ lại, chén rượu rót tràn một mình ngửa cổ dốc cạn, trông ra ngoài trời tuyết bay trắng xóa, trông lại quanh mình bằng hữu cũng không, có nhà mà không được về, vợ yêu sống chết chẳng biết. Tình cảnh thật là thê lương vô hạn, Lâm Xung càng ngẫm càng cay đắng, bèn gọi tửu bảo lấy bút nghiên đề mấy câu thơ lên vách:

“Khẳng khái thay Lâm Xung

Trung nghĩa dốc một lòng

Giang hồ từng nổi tiếng

Thiên hạ khét anh hùng

Thân thế thường chìm nổi

Công danh ngán bấp bông!

Ngàn sau như thỏa chí,

Vùng vẫy Thái Sơn Đông.”

Viết xong vứt bút xuống, lại ngồi uống rượu, không ngờ ngôi tửu quán ấy lại là của Lương Sơn Bạc, do hảo hán Chu Quý trông giữ. Lại là một chuyện tưởng tình cờ nhưng hoá ra là hữu ý. Cuộc đời Lâm Xung cứ đi qua cơ man nào là những “tình cờ” như vậy: tình cờ vào Bạch Hổ Đường, tình cờ tương ngộ Lỗ Trí Thâm, tình cờ gặp Sài Tiến, và cuối cùng là tình cờ lên Lương Sơn…

Ở đây, hãy thử dừng lại phân tích một chút về cái gọi là “tâm lý Lâm Xung”. Bước ngoặt cuộc đời của ông không phải là khi bước chân nhầm vào Bạch Hổ Đường, mà chính là lần chết hụt trong trận hỏa hoạn ở Thảo Đường. Trước đêm ấy, một “Lâm Xung cũ” dù buồn chán, bất bình nhưng vẫn mang danh phận “giáo đầu 80 vạn cấm quân”, dù bị thích chữ lên mặt, đày đi nơi xa mà vẫn mong có ngày được chiêu tuyết minh oan. Thế nên cái cô đơn, bải hoải hay niềm căm hận của Lâm Xung lúc ở Thảo Đường chịu rét nặng về tình riêng, thù nhà hơn. Lâm Xung ấy chỉ mong một đao đoạt mạng những kẻ thủ ác đã đẩy mình vào cảnh tù đày. Nói cách khác, ấy là một Lâm Xung cam chịu, ẩn nhẫn, chờ thời.

Nhưng ngọn lửa dữ dội ở Thảo Đường không chỉ liếm cháy cỏ khô, mà còn thiêu rụi tấm lòng của “Lâm Xung cũ”. Lúc này, Lâm Xung chợt hiểu: “Ồ, hoá ra sự tình là thế! Lũ tiểu nhân đâu có chừa cho ta một cửa sống nào! Chỉ cần ta còn sống thì chúng không từ thủ đoạn hãm hại ta!”. Ngọn lửa ở Thảo Đường bùng lên đã kích phát một ngọn lửa khác trong lòng Lâm giáo đầu: ngọn lửa của một anh hùng thực thụ. Một “Lâm Xung mới” lộ diện…

Lâm Xung mới đã tỉnh ngộ, đã hiểu rằng từ bây giờ ông không thể nào quay lại những ngày tháng tươi đẹp năm xưa, không thể là một giáo đầu uy nghiêm, được trọng vọng, không thể đưa hiền thê đi lễ chùa vãn cảnh mỗi ngày tuần hay lang thang giải phiền ở những tửu lầu của kinh thành nữa. Lâm Xung bây giờ đã tuyệt đường về! Vậy thì chỉ có bước tiếp mà thôi. Ngọn lửa thiêu cháy đường về của Lâm Xung nhưng cũng thúc ép ông phải tiến lên, dù tương lai đang mịt mờ và ảm đạm như trận gió tuyết trong đêm hôm ấy ở miếu Sơn Thần.

Khi đã hiểu ra tất cả câu chuyện đều là mưu gian kế độc của bè lũ Cao Cầu, điều đầu tiên Lâm Xung nghĩ đến là: “Trời đã thương Lâm Xung tôi!”. Một kẻ cô độc không chốn dung thân, không cửa không nhà, không người thân thích, thân mang trọng tội, đi đày nơi xa vậy mà vẫn có kẻ còn muốn ông phải tuyệt đường sống, hãm hại ông. Không còn đường lùi! Phải bước đi! Lâm Xung ra đi trong đêm gió tuyết, con đường trước mặt mịt mù nhưng trong tâm thì đã sáng tỏ. Ông Trời đã chọn Lâm Xung phải là một anh hùng đội trời đạp đất, nghiêng sông lật bể, chí tại bốn phương. Lâm Xung không thể cứ mãi ở Thảo Đường trông coi cỏ khô, cũng không thể cứ mãi sống những tháng ngày vô nghĩa, ngay ngáy lo kẻ khác hãm hại mình. Đường tới Lương Sơn, đến với nơi thay Trời hành đạo đã ngày càng hiển lộ rõ…

Tuyết giăng đầy trời, gió Bắc thổi rát mặt, Lâm Xung ngược đường, cầm thư tay của Sài Tiến mà hăm hở hướng đến đầm nước. Có lẽ ông đã biết được rằng mình đang ở trên con đường trở về với nơi đã sinh ra sinh mệnh…

**Lâm Giáo đầu có muốn giết Cao Cầu bằng được hay không? Võ nghệ của Lâm Xung trùm đời vì sao cay đắng chịu nhục? Liệu chí hướng của Lâm Xung có phải ở chỗ làm nghề lạc thảo? Và phải chăng mọi sự đã có an bài?

>>> Lâm Xung: chỉ là kẻ tiểu nhân cơ hội? Giải mã Lâm Xung dưới hai góc nhìn trái biệt

Lâm Giáo đầu sinh ra trong một gia đình quan lại cấp thấp, là con của một Đề Hạt – người đứng đầu lực lượng an ninh quân sự tại địa phương cấp châu, quận của nhà Tống. Cha vợ của Lâm Xung là Trương Giáo đầu, cũng là một vị thầy dạy võ cho quân đội. Vậy nên, Lâm Xung được định sẵn cho con đường binh nghiệp, phục vụ trong quân đội triều đình với lý tưởng “trung quân ái quốc”. Một hiếu tử ắt sẽ theo con đường đó để nối nghiệp cha và thăng tiến trong bộ máy nhà nước như một trung thần.

Trong gia đình nhỏ, Lâm Xung là một người chồng yêu thương vợ hết mực, đến mức khi nạn lớn ập đến, không muốn vợ đau khổ phí hoài tuổi trẻ chờ đợi mình trong cảnh lưu đày mà biết đâu chẳng có ngày về, Lâm Xung ký giấy từ hôn rồi giao cho nhạc phụ. Hình như chưa bao giờ người ta thấy Lâm Xung nặng lời với vợ dù nạn lớn của đời ông bắt đầu từ tấm nhan sắc của ý trung nhân. Trong những tháng ngày “khổ tận” lênh đênh nơi góc bể chân trời, hy vọng lớn nhất của Lâm Xung là đến ngày “cam lai”, đôi uyên ương trùng phùng.

Có thể nói, cái thế giới của Lâm Xung trước khi xảy ra biến cố lớn của cuộc đời chỉ bao gồm giáo trường của quân đội, tư gia ấm êm với vợ hiền xinh đẹp và chốn lui tới với một vài huynh đệ tâm đầu ý hợp. Lâm Xung không phải là tay hào sảng nơi thôn dã như Thác Tháp Thiên Vương Tiều Cái, hay dòng dõi công hầu cao sang, tiền bạc như nước giống Sài Tiến, nơi bạn hữu giang hồ năng lui tới để rồi mưu toan những việc chọc trời khuấy nước; Lâm Xung chỉ là một viên chức mẫn cán, khiêm cung và lặng lẽ làm tròn chức phận của mình. Song, một kẻ văn võ song toàn, cốt cách nho nhã, xử thế nhẫn nhịn, có công phu hàm dưỡng, lại tận tụy trách nhiệm… như Lâm Xung, nếu tiếp tục đi con đường ấy ắt hẳn sẽ có ngày trở thành rường cột của quốc gia – chắc rằng có không ít người nghĩ vậy.

Ai mà chẳng nghĩ vậy trong lần đầu tiên hán tử hiên ngang ấy xuất hiện. “Giáo đầu đã khen thì ắt không phải tầm thường” – lời đám lâu la ở vườn rau Giải Vũ chùa Tướng Quốc; tên tuổi Lâm Giáo Đầu vang dội thành Đông Kinh, từ bậc cao sang đến hạng bách tính tầm thường đều biết.

Nắm đấm giơ lên trước mặt kẻ làm nhục vợ mình đành phải hạ xuống, chỉ bởi vì đó là cậu ấm Cao Nha Nội – con nuôi của thái úy Cao Cầu, quan trên của Lâm Xung. Biết làm sao bây giờ? Lâm Xung đành ngậm đắng bỏ qua, vờ như nghe theo lời khuyên can của bà con hàng phố, nhưng con mắt trợn trừng, cái miệng mím chặt kia thì sao giấu được cơn phẫn nộ trong lòng? Ấy vậy mà phải ngay lập tức tỏ vẻ hòa hoãn như không có chuyện gì xảy ra để trấn an ông bạn nóng tính bất cần Lỗ Trí Thâm, kẻo ông lại “tặng” cho “cậu ấm Cao” mấy quyền nằm thẳng cẳng như Trấn Quan Tây Trịnh Đồ thì nguy; nguy cho bạn, mà cũng nguy cho tiền đồ của mình. Cay đắng làm sao!

Nhưng rồi sự việc ấy cũng nguôi ngoai dần. Lâm Xung đã chịu lùi một bước, thì lại đến sự việc của Lục Khiêm – một vố lừa từ bằng hữu thân thiết. Lục Khiêm lừa Lâm Xung ra khỏi nhà, rồi lại lừa vợ Lâm Xung đến nhà mình cho Cao Nha Nội có thêm cơ hội sàm sỡ. Quan trên bắt nạt thì đành chịu, nhưng bằng hữu phản bội thì phải trừng trị. Lâm Xung phá tan nhà Lục Khiêm rồi cầm dao đi xử tên bạn xấu. Nhưng hắn đã trốn biệt trong phủ Cao thái úy. Lâm Xung có biết không? Hẳn là biết. Cũng như Lâm Xung biết rằng người trung hậu, tài năng sống trong thế giới của kẻ tiểu nhân thượng đội hạ đạp, một tay che trời làm oai làm phước ắt phải chịu nhục, như lời anh ta tâm sự:

“Tôi nghĩ làm thằng con trai ở đời, tài sức chẳng kém gì ai, thế mà chẳng gặp được người minh chủ, lại phải khuất dưới kẻ tiểu nhân rồi lại bị người ta trêu tức thì có khó chịu hay không?” (Thủy Hử – Thi Nại Am)

Lâm Xung chịu nhục lần thứ hai. Biết làm sao đây? khi sự việc có liên quan đến Thái úy Cao Cầu thì đành phải “việc to hóa nhỏ, việc nhỏ xem như không có gì”. Lâm Xung đành mượn chén rượu và mối giao tình với Lỗ Trí Thâm để quên đi mối nhục này, một mặt vẫn phải giấu chuyện bất bình với ông bạn nóng tính. Nếu bảo Lâm Xung không nhớ oán thù cũng phải, bảo Lâm Xung đành ủy khuất cũng xong. Cuộc sống này, sự nghiệp này, hoạn lộ này… muốn được bảo toàn thì đành phải cắn răng chịu nhục. Thế là qua mấy hôm, sự việc lại dường như chìm vào quên lãng.

Nhưng Tử Lộ có câu: “Mộc dục tịnh nhi phong bất đình – Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng”. Lâm Xung chịu nhục cũng chẳng yên. Anh ta tiếp tục bị lừa mua đao quý rồi mang đao vào Bạch Hổ Đường theo lệnh của Cao Cầu thái úy, nhân đó mà bị khép tội mưu hại quan trên với hình phạt đi đày ở Thương Châu. Cái nạn này, Lâm Xung vẫn giải thích với bố vợ Trương Giáo Đầu là do “năm xung tháng hạn” – Nói với cha vợ hay tự trấn an mình cho cam lòng chấp nhận bước lưu ly?

Đó là lần nhục thứ ba. Lâm Xung tiếp tục nhẫn nhục chịu tội để mong có ngày được quay về sống cuộc sống của “Lâm Giáo Đầu”, biết đâu hết “năm xung tháng hạn” sẽ có ngày mở mày mở mặt. Lâm Xung nào có bao giờ nghĩ mình sẽ đi theo con đường lục lâm thảo khấu.

Áp giải Lâm Xung đi đày là hai tên công sai Đổng Siêu, Tiết Bá. Trên đường đi, Lâm Xung bị chúng hành hạ trăm chiều khốn khổ, chân bị chúng nhúng nước sôi rồi bắt đi đôi giày cứng đến toạc cả máu. Đến rừng Dã Trư, Lâm Xung còn bị chúng lừa trói rồi hạ sát. May còn có ông bạn quý Lỗ Trí Thâm kịp thời ứng cứu. Thật đúng là: “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”. Đó là lần nhục thứ tư.

Giá như hai tên công sai kia rơi vào tay Lỗ Đạt hay Võ Tòng, dẫu có đến 10 mạng chúng cũng chẳng thể quay về. Nhưng Lâm Xung lại hết sức xin Lỗ Đạt tha mạng cho chúng vì bản tính Lâm Xung khiêm tốn, nhân hậu. Vả lại, Lâm Xung dường như cũng muốn chừa lại cho mình một đường lui.

Xã hội đầy bất công đấy, nhưng chẳng lương dân nào muốn trở thành kẻ phản nghịch. Chỉ mong có ngày mây tan mưa tạnh, ngửa cổ mà đoái trông lượng cả bao dung của đấng thiên tử để được trở về làm kẻ trung thần hiếu tử mà thôi.

Kể sao cho xiết những thảm cảnh nhục nhằn cay đắng kể từ đó về sau của Lâm Xung.Từ một anh hùng hảo hán nức tiếng ở kinh thành trở thành tên tù mặt thích chữ, thân chịu đòn roi; Từ một nho tướng chính trực chưa từng biết làm những việc khuất tất, Lâm Xung cũng phải hạ mình hối lộ những tên công sai của nhà nước như Đổng Siêu, Tiết Bá, Sai Bát, Quản Doanh… để rồi cay đắng thốt lên: “Tha hồ nghĩa nặng tình sâu, anh em máu mủ chẳng đâu bằng tiền”. Từ những cuộc rượu khoái hoạt với những bằng hữu chốn kinh đô hoa lệ, đến cảnh uống rượu thui thủi một mình nơi kho cỏ tuềnh toàng chốn thâm sơn cùng cốc trong gió tuyết mưa sa; Từ chức chỉ huy 80 vạn cấm quân đến thân phận kẻ quét tước Thiên Vương Đường, bảo vệ Bách Thảo Đường – một kho cỏ… Lâm Xung vẫn nhẫn nhục để nuôi hy vọng trở về. Thế nên khi ở Thiên Vương Đường, biết Lục Khiêm mò đến tận nơi để ám hại mình, Lâm Xung cũng hậm hực tìm giết, nhưng chẳng đuổi cùng giết tận, cuối cùng cũng bỏ cuộc.

Trong khi anh em Tiều Cái, Ngô Dụng, Lưu Đường, Tam Hùng Nguyễn Thị… cảm thấy khoái hoạt như cá gặp nước nơi Thủy Bạc Lương Sơn, Lâm Xung vẫn coi đó chỉ như một nơi cư trú tạm bợ. Cho đến lúc ngồi ở ngôi thứ tư Lương Sơn Bạc, Lâm Xung cũng chẳng khi nào có chí hướng làm kẻ phản thần, mà là: “chỉ mong có một ngày kia trừ bỏ những tên tâm địa độc ác ở cạnh nhà vua đi, thế là thỏa chí”.

Người ta vẫn nhầm tưởng rằng Lâm Xung ôm một nỗi căm hờn với Cao Cầu đến mức sau khi nghe tin vợ chết, gia đình tan nát, mục đích duy nhất cho sự tồn tại của Lâm Xung đó là có một ngày kia tóm được Cao Cầu để báo thù rửa hận. Xưa nay, các nhà làm phim đều khai thác và sáng tạo tình tiết theo hướng ấy.

Việc đó có thể khiến cho cuộc đời Lâm Xung thêm một chút kịch tính hay ăn khách, nhưng lại dùi sâu vào những chi tiết nhỏ nhặt của ân oán cá nhân, quả thực đã xa rời nguyên ý hay nội hàm sâu xa mà Thi Nại Am gửi gắm trong Thủy Hử.

Thực ra, không hề có chi tiết Lâm Xung đuổi giết Cao Cầu như đã kể trên, cũng chẳng có chuyện Lâm Xung vì bị Tống Giang ngăn cản nên uất ức thổ huyết rồi ôm hận mà chết. Lâm Xung dưới ngòi bút của Thi Nại Am vẫn là một chiến tướng lừng lẫy tung hoành nơi sa trường khiến anh hùng hảo hán bốn phương khiếp vía, với thương pháp khiến người ta nhớ tới Triệu Tử Long ở trận Đương Dương Trường Bản và những tuyệt kỹ đánh bát xà mâu có thể so với Trương Dực Đức… Lâm Xung vẫn nuôi hy vọng được chiêu an, trở về làm một trung thần. Như thế thì ủng hộ Tống Giang không hết, lẽ nào có chuyện ôm hận mà chết đây?

Vì sao những trung thần hiếu tử như Lâm Xung phải làm nghề lạc thảo? Bởi phường lưu manh hạ đẳng như Cao Cầu có thể leo lên ngôi cao chót vót. Vì sao một kẻ văn dốt võ dát, chỉ nhờ những ngón nghề hèn mọn như đá cầu, chọi gà… như Cao Cầu mà có thể giữ trọng trách xã hội? Vì có những ông vua ham chơi, lười nhác chính sự, lại cẩu thả vô trách nhiệm như Tống Huy Tông. Vì sao những kẻ như Tống Huy Tông có thể làm vua? Vì việc đời có thịnh ắt có suy, phúc ấm của vương triều đã dùng hết, hàng con cháu đời sau đức mỏng tài hèn lại kế nghiệp ông cha mà không tạo thêm phúc mới cho muôn dân, cho xã tắc thì chắc chắn triều đại ấy sẽ lụn bại và bị thay thế. Trận ôn dịch thời Tống Nhân Tông chẳng phải chính là lời cảnh báo đó sao? Cái việc 108 Ma Vương thoát ngục đã được an bài sẵn để cho ứng hợp với cái lẽ “thượng bất chính hạ tắc loạn” của xã hội nhà Tống lúc mạt vận như vài lời bàn luận trong Phi Lộ mà thôi…

Chung quy, mọi sự như đã có an bài,vở kịch cuộc đời ấy cứ thế mà diễn đến lúc hạ màn…

Cre: Vàng Son

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here