sổ mua lương thực

Thời Bao cấp là tên gọi được sử dụng tại Việt Nam để chỉ một giai đoạn mà hầu hết sinh hoạt kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế theo Chủ Nghĩa Cộng Sản. Theo đó thì kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ, nhường chỗ cho kinh tế do nhà nước chỉ huy. Mặc dù kinh tế chỉ huy đã tồn tại ở miền Bắc dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ trước năm 1975, song thời kỳ bao cấp thường được dùng để chỉ sinh hoạt kinh tế cả nước Việt Nam ở giai đoạn từ đầu năm 1976 đến cuối năm 1986 trên toàn quốc, tức là trước thời kỳ Đổi Mới.

>>> “Đánh hàng địa chỉ” nghedân xuất khẩu lao động kể chuyện đánh hàng từ Liên Xô về

Trong nền kinh tế kế hoạch, thương nghiệp tư nhân bị loại bỏ, hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu do nhà nước nắm toàn quyền điều hành, hạn chế đến thủ tiêu việc mua bán trên thị trường hoặc vận chuyển tự do hàng hoá từ địa phương này sang địa phương khác. Nhà nước có độc quyền phân phối hàng hóa, hạn chế trao đổi bằng tiền mặt.

Chế độ hộ khẩu được thiết lập trong thời kỳ này để phân phối lương thực, thực phẩm theo đầu người, tiêu biểu nhất là sổ gạo ấn định số lượng và mặt hàng được phép mua. Trong thời kì bao cấp, có rất nhiều loại tem phiếu, trong đó có những loại quan trọng nhất sau đây:

* SỔ MUA LƯƠNG THỰC

Là loại sổ quan trọng nhất mà dân chúng gọi vắn tắt là sổ gạo. Một trong những hiện tượng tiêu biểu của thời bao cấp trên miền Bắc đất nước ta.

Đã có một thời mà “sổ gạo” gắn liền với sự sống còn của người dân, như một “vị cứu tinh”, một bùa hộ mệnh. Theo từ điển Bách khoa toàn thư: Sổ lương thực, hay nôm na là sổ gạo, là một quyển sổ ghi chỉ tiêu lương thực của một hộ gia đình được mua hàng tháng, trong thời bao cấp.

Hàng tháng, người dân thành phố được mua một số lượng gạo và chất độn nhất định tùy theo tiêu chuẩn được ghi trong sổ. Sổ này do Sở Lương thực cấp căn cứ vào tên, tuổi, nghề nghiệp đăng ký trong sổ hộ khẩu chính thức. Để nhận lương thực, người dân mang sổ lương thực và xếp hàng tại cửa hàng lương thực. Nguyên nhân sâu xa của việc hình thành chế độ cấp sổ gạo ở Việt Nam là cung luôn luôn thấp hơn cầu. Tình trạng này xuất hiện ở Miền Bắc từ cuối thập kỷ 50 và kéo dài trong cả nước sau 1975 cho tới khi đổi mới kinh tế. Bắt đầu từ ngày 1-3-1957, Nhà nước thực hiện chế độ cung cấp gạo ăn hàng tháng cho tất cả bộ đội, CBCNV, học sinh các trường chuyên nghiệp, học sinh trường phổ thông hưởng học bổng toàn phần, bệnh nhân tại các bệnh viện, trạm điều dưỡng…

Giá thống nhất và ổn định là 0,4 đ/kg (4 hào/kg) Định lượng như sau:

– Cán bộ viên chức làm công tác hành chính sự nghiệp được tiểu chuẩn 13,5kg/người/tháng
– Trẻ em từ sơ sinh đến 4 tuổi được hưởng 4kg/tháng. Tăng một tuổi được tăng thêm 1kg và không quá 15kg.
– Từ 18 tuổi trở lên được hưởng 13kg/người/tháng.
– Công nhân lao động tùy theo công việc nhẹ, nặng hay độc hại được hưởng theo công việc từ 18kg -24kg/tháng.

Cho nên có những người không thích làm công việc nhẹ nhàng, muốn được giao làm công việc nặng nhọc để được tiêu chuẩn lương thực cao hơn. Định lượng như vậy nhưng không phải là được mua toàn gạo mà phải mua kèm từ 25% đến 50%(có lúc lên tới 75%) chất độn có thể là ngô, khoai, sắn, bột mỳ, mỳ sợi, thậm chí là hạt bo bo (loại thức ăn dùng cho gia súc).

Sổ gạo như là một tài sản lớn để đảm bảo cuộc sống cho một gia đình, nếu không may làm mất thì trong thời gian chờ đợi các thủ tục cấp lại phải ăn gạo giá thị trường thì vô cùng khốn khổ.Cho nên dân Hà Nội ai cũng biết câu “mặt nghệt như mất sổ gạo”.

* PHIẾU VẢI

Từ 1962, định lượng phân phối như sau :
– CBCNVC nhà nước 5m/người/năm.
– Nhân dân thành phố, thị xã 4m/người/ năm
– Nhân dân nông thôn 3m/người/ năm

Các loại phiếu vải cũng chia ra hai loại nam và nữ. Phiếu vải nữ có quyền được mua mỗi năm 2m vải Ta-tăng hoặc lụa đen hay các loại vải tương tự để may quần.

* PHIẾU SỮA

Chỉ trẻ em sơ sinh và người ốm mới được cấp Phiếu mua sữa
– Sản phụ là CNVC nhà nước thì trẻ sơ sinh được tiêu chuẩn 4 hộp /tháng.

Nếu sản phụ có giấy chứng nhận mất sữa thì đứa trẻ được 8 hộp /tháng.Các loại sữa đều là sữa đặc có đường như Thảo Nguyên, Ông Thọ hay Nét-lê… Sữa thường bị quá hạn nên đặc đến mức vón cục phải luộc cả hộp trong nước sôi thì mới rót ra được.
– Người ốm phải có giấy chứng nhận đang nằm điều tri ở bệnh viện mới được cấp tem mua sữa.

* PHIẾU ĐƯỜNG

– loại N của nhân dân 0,1kg/tháng.
– loại TR của trẻ em 0,25kg/tháng
– loại E của người làm hành chính sự nghiệp 0,35kg/tháng
– loại I, II, III của công nhân lao động tùy theo công việc nặng, nhẹ đươc mua 0,5kg/tháng, 0,75kg/tháng, 1kg/tháng.

* PHIẾU MUA CHẤT ĐỐT. (Dầu, than, củi, mùn cưa)

– Các hộ gia đình ở thành phố, thị xã từ 4 người trở lên được cấp than là chủ yếu và được mua 10kg củi/hộ (để nhóm lò).Than chủ yếu là loại than cám, mua về phải tự nắm thành nắm mới đun được.
– Các hộ dưới 4 người được dùng dầu hoàn toàn.Về sau do hiếm than củi nên tất cả các hộ gia đình chủ yếu là đun bếp dầu hỏa. Vì chất đốt khan hiếm như vậy nên có gia đình còn phải kiếm thêm chất đốt bằng cách quét lá cây, cành cây khô gẫy, rụng trên đường phố.

* SỔ CUNG CẤP PHỤ TÙNG XE ĐẠP

Từ năm 1965, Nhà nước quy định tiêu chuẩn của mỗi CBCNVC nhà nước là được phân phối 1 chiếc xe đạp trong cả đời công tác. Ai đã có xe đạp thì được đăng ký để xin sổ mua phụ tùng. Việc phân phối này khá phức tạp. Mỗi đợt có “tiêu chuẩn” đưa về cơ quan và xí nghiệp như xích, líp, xăm, lốp… là lại có một cuộc bình xét hoặc gắp thăm.Người cần lốp lại gắp được xích, người cần săm lại gắp được líp là chuyện quá bình thường.

* BÌA MUA HÀNG GIA ĐÌNH

Các hộ gia đình (kể cả thành thị và nông thôn) được cấp bìa mua hàng để được mua các mặt hàng như: chiếu, xà phòng, diêm, kim chỉ… và trong các dịp lễ tết thì được mua các loại chè, thuốc, bánh, mứt, kẹo…Bìa mua hàng cũng được phân loại A,B,C,D…tùy theo hộ gia đình có ít hay nhiều nhân khẩu để được mua lượng hàng không bằng nhau.

– Ngày Quốc khánh (2/9), các bìa được cung cấp bánh, kẹo, thuốc lá, chè.
– Ngày tết Trung thu, được cung cấp bánh nướng, bánh dẻo.
– Ngày tết Nguyên đán được cung cấp phong phú hơn cả: Mỗi hộ được mua 1 túi hàng Tết bao gồm: Mứt tết, bánh, kẹo, chè, thuốc lá, một miếng bóng bì, vài lạng miến, vài lạng đỗ xanh, gói mỳ chính, gói hạt tiêu, một chai rượu mầu Cam hoặc Chanh, lại có cả một bánh pháo Trúc Bạch để đốt lúc giao thừa.

* PHIẾU MUA THỰC PHẨM

Mỗi đầu người được một tờ phiếu để mua thực phẩm cả năm.Trên tờ phiếu được chia theo nhiều ô có in số, in Tháng và in cả loại phiếu như N,TR, E, I,II,III để phân biệt định lượng được mua.

– N là nhân dân 0,3kg thịt/tháng – E là nhân viên hành chính sự nghiệp 0,5kg thịt/tháng

– I,II,III La Mã là công nhân lao động được mua từ 0,5kg, 0,75kg, 1kg đến 1,5kg thịt/tháng. Ngoài ô mua thịt còn có các ô khác để mua đậu phụ, nước mắm, Trứng muối , thức ăn chín…..

Phiếu in cả số tháng nên nếu quên không mua để quá hạn là coi như mất tiêu chuẩn.

Ngoài các loại tem phiếu trên, còn có nhiều thứ giấy tờ có thể mua hàng: giấy giới thiệu, giấy chứng nhận kết hôn, giấy báo tử, bệnh tật… cũng có giá trị để xét cho hưởng chế độ cung cấp định lượng.

Tang ma (có giấy báo tử) thì gia đình được mua 1 quan tài theo giá cung cấp kèm theo một số vải tang để khâm liệm (người dân tộc: 10m/người; người Kinh: 6m/người)…
Có giấy khai sinh (cho trẻ sơ sinh) thì được mua xoong nồi, chậu tắm, vải làm tã lót…
Có giấy kết hôn được mua 1 màn đôi, 2kg bánh kẹo, 10 bao thuốc lá, ngoài ra tuỳ nơi, tuỳ lúc mà còn có thể được mua cả 1 giường đôi, 1 xoong hoặc nồi nhôm, 1 phích nước…

Thời bao cấp, nhà nước chia ra 11 mức được hưởng chế độ cung cấp thực phẩm và nhu yếu phẩm.

Cán bộ cao cấp hưởng tiêu chuẩn ĐB (đặc biệt), cấp bộ trưởng hưởng tương đương tiêu chuẩn A, cấp thứ trưởng tiêu chuẩn B; cấp trưởng của các “cục, vụ, viện”, các chuyên viên cấp cao, giám đốc… được tiêu chuẩn C.
Còn cán bộ, công nhân viên chức hưởng tem phiếu E nhưng tùy theo mức lương sẽ được tiêu chuẩn tem phiếu E1 hay E2.
Cán bộ độc thân là tiêu chuẩn D.
Công nhân làm trong môi trường độc hại, lao động nặng nhọc thì hưởng tiêu chuẩn I, II, III và cuối cùng nhân dân là tiêu chuẩn N.

Cấp bộ trưởng hoặc tương đương là phiếu A, trước 1975 hưởng 6 kg thịt, 3 kg đường, sau năm 1975 hưởng 4,2 kg thịt, 2 kg đường/tháng.

Cán bộ trung cấp phiếu C trước 1975 hưởng 1,5 kg thịt, 1 kg đường/tháng, sau 1975 hưởng 1 kg thịt, 0,8 kg đường/tháng…

Về lương thực, tiêu chuẩn A, B hay C là 21 kg/tháng, cao hơn cán bộ bình thường nhưng thấp hơn tiêu chuẩn công nhân độc hại. Còn vải, ngoài tiêu chuẩn 5 m/năm thì cán bộ tiêu chuẩn A có sổ giao tế có thể tự do mua thêm các loại vải khác mà không cần phiếu.Tiêu chuẩn N của nhân dân trước sau vẫn là 0,3kg thịt/tháng và 0,1kg đường/tháng.

Vì tiêu chuẩn giữa cán bộ cao cấp và nhân dân chênh lệch nhiều như thế nên phải có những cửa hàng riêng để phục vụ. Cán bộ tiêu chuẩn A, B, Bộ Nội thương cho mở các cửa hàng riêng. Ở phố Ngô Quyền (Q.Hoàn Kiếm) là cửa hàng chuyên bán gạo. Tuy tiêu chuẩn không nhiều hơn so với cán bộ bình thường nhưng tiêu chuẩn A, B không phải ăn độn, chất lượng gạo ngon hơn. Ngoài bán cho cán bộ tiêu chuẩn A, B, cửa hàng Ngô Quyền còn bán cho gia đình các vị, tất nhiên vẫn phải ăn độn như quy định nhưng không bao giờ có gạo mốc, hôi và đen như các cửa hàng lương thực bán cho nhân dân. Cửa hàng 17 phố Tôn Đản thì chuyên bán thực phẩm và rau quả, nói chung thịt cá bao giờ cũng tươi ngon còn rau quả không bao giờ có rau héo. Đúng ra cửa hàng này chỉ dành riêng cho cán bộ cấp cao, tuy nhiên nếu có quan hệ thì gia đình họ vẫn có thể mua thực phẩm ở đây, tiêu chuẩn thì theo quy định nhưng mua ở đây không phải xếp hàng, không phải ăn thịt ướp lạnh, không phải chịu cảnh cửa hàng có gì mua nấy. Và nói chung nhân viên bán hàng này rất biết họ đang phục vụ ai nên nhã nhặn, lịch sự không vênh váo như mấy bà bán tại các cửa hàng dành cho nhân dân.

Cán bộ tiêu chuẩn A và B còn được cấp sổ mua hàng ở cửa hàng giao tế (nay là Intimex, phố Lê Thái Tổ, Q.Hoàn Kiếm). Tiêu chuẩn của mỗi sổ giao tế được mua mấy cây thuốc lá trong một tháng, đường, xà phòng bán theo tiêu chuẩn nhưng bánh, kẹo, bơ, vải, pin… mua tự do. Đó là những mặt hàng rất hiếm, có mặt hàng không có ngoài thị trường nên mức chênh lệch giá rất lớn.

Còn cán bộ tiêu chuẩn C cũng có cửa hàng thực phẩm riêng. Q.Hai Bà Trưng có cửa hàng Vân Hồ, Q.Ba Đình có cửa hàng Đặng Dung, Q.Hoàn Kiếm có cửa hàng ở số 1 phố Nhà Thờ. Sự ra đời các cửa hàng đặc biệt dành riêng cho cán bộ cao cấp bắt đầu từ sau tiếp quản thủ đô 10.10.1954, ban đầu nó hình thành do đề xuất của ngành công an vì muốn bảo vệ cán bộ, tránh bị đầu độc, nhưng năm 1965, giá cả nhiều mặt hàng ngoài thị trường tăng trong khi cửa hàng lại không thể tăng theo và lương cán bộ thì vẫn giữ nguyên.

Để đảm bảo đời sống cho cán bộ cao cấp nên đã sinh ra chế độ như vậy. Nhưng đâu chỉ có cán bộ cao cấp mà còn rất đông cán bộ trung cấp nên mới sinh ra tiêu chuẩn C. Trước tiêu chuẩn của các cán bộ “đi xe Volga ăn gà Tôn Đản”, dư luận xã hội cũng lèo xèo. Nhưng xóa bỏ hệ thống này lại đụng chạm quyền lợi của những người mà tiếng nói của họ có trọng lượng trong cơ chế. Trong thời buổi như thế, xã hội đã sinh ra một lớp người làm nghề mua đi, bán lại tem, phiếu, sổ mua hàng cung cấp thậm chí là cả giấy giới thiệu. Đối tượng làm nghề này được dân chúng gọi là “Con phe”.

Huyền Thoại “Dân Chơi” THỜI BAO CẤP – Những Món Hàng Hiệu Thể Hiện Đẳng Cấp Dân Chơi Bao Cấp

Nhớ gì, kể nấy coi như là chuyện phiếm để ôn lại đất nước ta đã từng có một thời như thế, là nỗi kinh hoàng ám ảnh một thế hệ con người đến tận bây giờ. Trong bài có chỗ nào thiếu sót hay không chuẩn xác xin quý vị bổ sung và lượng thứ.

*********(Viet Cuong Sarraut sưu tầm và biên tập)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here