đền cẩu nhi

Đền Cẩu Nhi nằm trên hòn đảo nhỏ ở phía Tây hồ Trúc Bạch, gắn liền với truyền thuyết về việc vua Lý Thái Tổ định đô ở Thăng Long. Sự tích xưa kể rằng, ở châu Cổ Pháp có một con chó mẹ sinh được chó con trên lông có những đốm ghép lại thành chữ “Thiên tử”, ứng với việc vua Lý Công Uẩn lên ngôi (vua Lý tuổi Tuất). Mẹ con Cẩu Mẫu – Cẩu Nhi đã vượt sông Hồng về Thăng Long, thành thần, được Vua cho dựng miếu thờ (sau miếu chuyển ra đảo hồ Trúc Bạch).

Dễ nhận thấy ngay lôi vào đền Cẩu Nghi có hai tượng thạch khuyển (chó đá) ngồi gác

Trong sách “Tây Hồ chí” của cử nhân Đốc học Dương Bá Cung (1794-1868) có viết: “Châu chử (bến Châu) tròn, lớn hơn Châu phụ, ở phía Tây hồ Trúc Bạch. Trên có miếu chó thần Cổ Nhi dựng từ triều Lý. Nay hãy còn”; và Núi Khán: “Hai ngọn liền nhau, ở phía Nam hồ, góc Tây nội thành. Trên có miếu Cẩu Mẫu (mẹ chó thần) của triều Lý. Nay là chùa”.

Sách “Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX” (NXB HN-1995) của tác giả Nguyễn Văn Uẩn (1912-1991) khi giới thiệu về vùng Hồ Tây có viết viết: “Lên đến gần đường đê Yên phụ, ta thấy còn mấy di tích lịch sử nữa: ở bên phải, trên một gò nhỏ giữa hồ Trúc Bạch có đền Cẩu Nhi, đền này có từ thời Lý Thái Tổ (thế kỷ XI), khởi thủy ở cạnh núi Nùng trong Hoàng thành, khi xây lại thành sau này mới chuyển bài vị thờ thần ra đây.

Về sau, những người coi đền và người đến lễ bái chỉ biết là đền thờ “Thủy Trung Tiên” (bà tiên dưới nước).

Vào thập niên 80 của thế kỷ trước đền xuống cấp sập sệ vì người đi viếng thưa dần, thậm chí có lúc đền còn bị biến thành quán “giải khát”. Ý tưởng phụng dựng lại ngôi đền bắt đầu từ năm 2002 khi người dân phường Trúc Bạch tha thiết đệ đơn lên TP xin phép được xây dựng lại đền thờ Cẩu Nhi thì có một số ý kiến phản đối.

Trong đó có ý kiến của của một số chuyên gia cho rằng đền Cẩu Nhi là một sự “bịa đặt lịch sử”, bên cạnh đó cũng có nhiều ý kiến của các nhà khoa học khác lại ủng hộ việc phục dựng đền Cẩu Nhi. Sau đó, Sở Văn hoá và Thể thao TP Hà Nội, UBND TP Hà Nội và UBND quận Ba Đình phê duyệt dự án phục dựng đền Cẩu Nhi ở phường Trúc Bạch. Đến ngày 20/8/2017, công trình phục dựng đền Cẩu Nhi chính thức được khánh thành và được xếp hạng là di tích cấp thành phố.

Sau khi được trùng tu đền Cẩu Nhi được đổi tên thành đền Thủy Trung Tiên

Kể từ khi được được đầu tư phục dựng đền Cẩu Nhi trở nên khang trang, hơn thơ mộng hơn và được nhiều người ghé thăm, đặc biệt là vào những ngày rằm và mùng một. Nhiều người tìm đến đền Cẩu Nhi để cầu bình an, sức khỏe và hạnh phúc.

Ông Nguyễn Văn Đức, người trông coi đền cho biết, trước đây đền xuống cấp sập sệ, nhiều người dân còn chiếm dụng để kinh doanh nên lượng người đến viếng thưa dần. Kể từ ngày đền được trùng tu lại, ngày nào cũng có người đến thắp hương. Trong số những người tìm đến đây, có nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn mong muốn sinh con đến thành tâm lễ bài ở đền để xin ban cho mình “chú cún con” mong người nối dõi tông đường.

Hình ảnh thạch khuyển được dựng canh trước cửa đền

Vẻ đẹp kiến trúc ngồi đền nhìn từ trong ra ngoài, từ chi tiết đến tổng thể, đều có nét đặc trưng riêng biệt. Đền được xây hình chữ nhật, nằm thơ mộng tại một đảo nhỏ trên hồ Trúc Bạch, gần cuối đường thanh niên, xung quanh đền có nhiều cây xanh cổ thụ bao bọc.

Lối vào đền được xây bằng cây câu xây bằng đá hình vong cung bắc qua mặt hồ Trúc Bạch. Cầu dài 18m gồm năm nhịp, mỗi nhịp dài 3,6m, rộng 2,25m. Trước cổng có hai con chó bằng đá án ngữ. Từ đường Thanh niên, đi qua cây cầu đá này là cổng Tam Quan được được thiết kế theo lối kiến trúc truyền thống được làm bằng gỗ vững chắc, phía trên lợp bằng ngói vảy cá. Trong đền có nhiều tượng. Đặc biệt, toàn bộ tượng, chông, chân nến đượ c chế tác bởi các nghệ nhân làng đúc đồng Ngũ Xã nổi tiếng bên hồ Trúc Bạch.

Đền Cẩu Nhi gắn với sự tích Vua Lý Công Uẩn lên ngôi vua

Dấu ấn lịch sự còn sót lại tấm bia đá xung quanh chạm nổi hình cánh sen khắc 4 chữ “Di tích Cẩu Nhi” là chứng tích về truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian lưu truyền đến hôm nay. Nội dung văn bia soạn theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư” và “Tây Hồ chí”, ở cuối có đoạn: “.. đến năm Canh Tuất có việc dời đô, Cẩu Mẫu, Cẩu Nhi đều hóa, vua nghe chuyện bảo đó là Chó Thần, bèn xuống chiếu cho dựng miếu thờ Cẩu Mẫu trên núi, dựng miếu thờ Cẩu Nhi trong hồ này. Miếu vẫn còn thuộc địa phận làng Trúc Yên…”. Ở cuối bia, có dòng chữ cho biết, công trình do Trung tâm Bảo quản -Tu bổ di tích thuộc Bộ VHTT xây dựng, hoàn thành ngày 4/6/1988.

Người trông coi đền Cẩu Nhi cho biết, trải qua thời gian, những chữ khắc trên bia đá nay đã mờ và phôi đi nhiều, Để bảo tồn một di tích cổ và tôn thêm vẻ đẹp Hồ Tây, Trúc Bạch, UBND thành phố Hà Nội cho sửa sang cảnh quan và dựng nhà bia. Hiện nay, tấm bia được quấn bằng lớp vải đỏ, bao bọc xung quanh càng khiến cho câu chuyện về Cẩu Mẫu – Cẩu Nhi trở thành ly kỳ lẫn thú vị.

—————–0—————-0—————–

Các nhà khoa học tranh cãi về đền Cẩu Nhi

Đây không phải là lần đầu tiên ngôi Đền Cẩu Nhi gây nên sóng gió trong giới khoa học và cả những người quản lý. Năm 1987, với “Vụ án phá đền Cẩu Nhi”, có vị quan chức đã mang tai vạ khi quyết định thay Cẩu Nhi đền bằng một Khách sạn. Từ sau sự việc này, gò đất để không giữa hồ cũng là nơi nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Trước tình hình đó, một công đôi việc, TP Hà Nội được sự đồng tình của một số nhà khoa học về truyền thuyết Thần Cẩu Nhi đã quyết định phục hồi lại ngôi đền này, vừa tạo ra một không gian văn hoá mới, lại vừa có ý nghĩa với dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Tuy nhiên, trong khuôn khổ những bài viết này, chúng tôi không bàn đến việc nên xây cái gì trên cái gò này mà chỉ giới hạn ở cuộc tranh luận trong giới khoa học, đặc biệt là khía cạnh văn hoá học. Trước hết các nhà khoa học phải trả lời những câu hỏi sau: Đền Cẩu Nhi có từng tồn tại? việc thờ Thần Cẩu Nhi có còn dấu vết trong dân gian quanh vùng? Nếu có truyền thuyết về Cẩu Nhi thì liệu có thể coi nó có ý nghĩa đối với việc định đô Thăng Long? vv… Bởi vì, rõ ràng, cái mục tiêu dễ nhìn thấy nhất của dự án này chính là gắn cho ngôi đền sắp phục dựng một ý nghĩa đối với Thăng Long. Sau bài viết Đền Cẩu Nhi là một sự bịa đặt lịch sử…? đề cập đến quan điểm của PGS.TS Đỗ Văn Ninh, nhiều nhà khoa học trong nước đã có những ý kiến khác nhau. Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin đăng một số ý kiến.

  1. Trần Lâm Biền:Đền Cẩu Nhi thờ cả cá lẫn chó!

Trên cái gò ở hồ Trúc Bạch vốn dĩ đã có một ngôi đền. Theo quan điểm của tôi, nó là ngôi đền thờ cả Thần Cá lẫn thần Cẩu Nhi cùng một lúc! Không có gì lạ khi có hai thần được thờ trong cùng một ngôi đền. Trong các kiến trúc cổ của Việt Nam có ngôi đình thờ đến 21 Thành Hoàng thì sao?

Ông Đỗ Văn Ninh không thích câu chuyện về Cẩu Nhi một phần có lẽ vì ông cho rằng chuyện đó hạ thấp uy tín của Nhà Lý và có phần không được… sạch sẽ nếu gắn với Thăng Long. Nhưng phải biết rằng có rất nhiều câu chuyện gắn liền với tổ tiên các tộc người thiểu số ở nước ta lấy con chó làm ông tổ. Người ta không làm tượng con chó đặt lên bàn thờ chính, nhưng làm bài vị thì có.

Từ xưa tôi đã thấy trong đền gò Trúc Bạch có cái bài vị bằng gỗ cổ, trên đó có những chữ đề nhắc đến Thần Cẩu Nhi. Phục hồi đền Cẩu Nhi có thể coi là để phục hồi một tín ngưỡng cổ của dân gian là tín ngưỡng thờ chó. Tất nhiên, nói như thế thì vừa phải hơn. Còn nói rằng Cẩu Nhi gắn với sự định đô Thăng Long thì cũng hơi quá.

Vả lại, hòn đảo trên hồ Trúc Bạch từ khi đền bị phá đã bị rêu rác bẩn thỉu; nếu nay có một công trình kiến trúc thì sẽ tạo nên một cảnh quan đẹp đẽ. Thêm vào đó, di tích ít nhất có từ thế kỷ XIX, vậy nó đã có niên đại tối thiểu là 150 năm và theo luật di sản nó đã xứng đáng trở thành di tích lịch sử văn hoá.

Tuy nhiên, nếu ông Đỗ Văn Ninh cứ đem những chứng cớ ngày tháng ra mà tính toán, thì ông sẽ bỏ cả thời đại Hùng Vương đi mất. Vì thời Hùng Vương mấy nghìn năm thế mà lại chỉ có 18 đời vua Hùng, thế ra mỗi vua sống trên một trăm năm cơ à, ai mà tin được!? Rõ ràng câu chuyện về Cẩu Nhi được phong thần và có đền thờ là câu chuyện không có trong sách sử, mà chỉ là truyền thuyết. Nhưng tôi gần 50 năm nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật, đi thực địa tìm thấy có nhiều điều hiển nhiên tồn tại sâu sắc, bén rễ trong dân gian nhưng hoàn toàn không được ghi trong chính sử. Ý niệm về Thần Cẩu Nhi rõ ràng tồn tại trong dân gian quanh vùng Tây Hồ và ta có thể gọi đền Cẩu Nhi là di tích lịch sử trong không gian của tín ngưỡng.

Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc: Trong truyền thuyến luôn có cốt lõi hiện thực!

Chuyện đó không ai bịa đặt ra cả vì nó đã được chép trong Tây Hồ chí. Tác phẩm này ra đời từ giữa thế kỷ XIX. Tây Hồ chí khẳng định đúng là trên gò hồ Trúc Bạch có một đền gọi là đền Cẩu Nhi thờ Thần Chó con. Về sau, tín ngưỡng thờ chó của người Việt phai nhạt đi nên cái đền đó, hoặc một cái đền mới xây trên vị trí đó lại được dân đổi qua gọi là Thủy Trung Tiên tự, tức là thờ Mẫu.

Nếu người nào bác bỏ cả sách Tây Hồ chí thì những sách về truyền thuyết của VN như Việt Điện u linh, Lĩnh Nam chích quái cũng theo phong cách đó, chẳng lẽ cũng vứt đi hết!? Tây Hồ chí sưu tầm các truyện dân gian, nó cũng giống như hai tác phẩm vừa nói đến, có những câu chuyện cổ có phần hoang đường nhưng phải hiểu là bên trong nó có cái cốt lõi hiện thực nào đó.

Ông Ninh bảo quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư không ghi chuyện con chó từ Bắc Ninh đi sang Hà Nội, Cẩu Mẫu chết chôn trên núi Khán, Cẩu Nhi chết chôn trên gò hồ Trúc Bạch… nhưng đâu phải việc gì, nhất là những việc có tính truyền thuyết cuốn này cũng chép hết. Nếu mà tính thế thì có đến một nghìn chi tiết Đại Việt sử ký toàn thư không chép! Lại bảo rằng vì bản đồ thời Pháp vẽ năm 1873 không có đền Cẩu Nhi mà kết luận là đền Cẩu Nhi không tồn tại thì cũng sai lầm theo kiểu tương tự. Vì biết đâu cái đền này quá nhỏ tới nỗi chỉ là một cái chấm nên người ta không ghi vào, hay là anh làm bản đồ lại sai thì sao?

Nhà nghiên cứu Bùi Thiết: Xây đền Cẩu Nhi là vi phạm Luật DSVH!

Tôi đồng ý với quan điểm của ông Đỗ Văn Ninh là không có cái gì gọi là đền Cẩu Nhi trên gò hồ Trúc Bạch. Về mặt khoa học, những người có quan điểm về sự tồn tại của đền này không đưa ra được chứng cớ gì cả.

Trong khi đó, để một di tích được công nhận là di tích lịch sử thì cần phải có cả chục yếu tố như niên đại, các nhân vật được thờ phụng, sự công nhận (bằng sắc) của chính quyền nhà nước qua các thời, ghi nhận về ảnh hưởng của di tích trong lòng nhân dân…

Nhưng những năm 30 thế kỷ trước, khi Viện Viễn Đông bác cổ ra thông báo các làng kê khai các di tích trong địa bàn mình để làm tư liệu thì không hề có làng nào quanh khu vực Tây Hồ hiện nay kể tên đền Cẩu Nhi.

Tấm bản đồ Hà Nội do Pháp vẽ năm 1873 ghi đầy đủ các di tích quanh Hồ Tây cũng không thấy có một ghi chú nhỏ nào về đền Cẩu Nhi. Còn Thuỷ Trung Tiên tự là ngôi miếu mãi về sau mới được xây dựng, do một người Hoa bỏ tiền ra xây, và thờ Mẫu Thoải, chứ không liên quan gì đến Cẩu Nhi cả. Cái gọi là đền Cẩu Nhi đã gây nên một vụ án khoa học cách đây gần 20 năm, và gần đây nó lại dấy lên.

Tôi nghĩ rằng, cái sự “sống trong lòng dân” của Đền Cẩu Nhi chỉ bắt đầu hiện diện từ sau vụ án đó, tức là năm 1987, khi ngôi đền không có thật đó trở nên “nổi tiếng” và làm cho người ta… sợ mà nhớ! Tôi nhấn mạnh rằng người Việt không có tục thờ Chó, mà chỉ sử dụng chó hoặc tượng chó làm vật canh nhà, chứ không khi nào đưa con chó lên bàn thờ cả. Dựng một ngôi đền không hề tồn tại là Cẩu Nhi lên theo tôi là vi phạm Luật Di sản Văn hoá!

—————-0————–0——————

Khám phá bí ẩn tục thờ chó đá của người Việt

Trong đời sống hiện thực, chó là loài động vật được con người thuần dưỡng từ rất sớm, trở thành vật nuôi quen thuộc trong mỗi gia đình, làm nhiệm vụ bảo vệ, trấn áp kẻ xấu, mang lại bình an cho gia chủ. Trong quan niệm của người Việt, chó là loài vật trung thành và mang lại nhiều may mắn. Bởi vậy, mà dân gian có câu: “Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang”. Loài vật này cũng có một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tâm linh của người Việt tự ngàn đời nay, biểu hiện rõ nhất thông qua tục thờ chó đá tại nhiều làng quê với những hình thức khác nhau.

Tìm đến làng Địch Vĩ, xã Phương Đình, (Đan phượng, Hà Nội) – nơi còn giữ nguyên tục thờ chó đá vào những ngày cuối năm, cụ Nguyễn Chí Cương, Phó ban quản lý di tích đình làng Địch Vỹ đang kính cẩn bao sái, dâng hương lên ông Hoàng Thạch ngự ngay cạnh đình làng.

Tượng ông quan Hoàng Thạch cao khoảng 1,4 m, trong tư thế ngồi, chân cụp, mắt nhìn thẳng về phía trước, miệng há, lưỡi thè che hàm răng dưới. Xung quanh ông Hoàng Thạch là 16 con chó con có kích thước không đồng đều, tư thế linh động.

Theo cụ Cương, không cứ vào ngày rằm, mùng một, dân làng cũng thường đến nơi thờ ông quan Hoàng Thạch để hương khói, xin thần phù hộ. Những đôi trai gái yêu nhau, gặp trắc trở, những người có nỗi oan khuất, mong được giải oan đến cầu xin đều được như ý, toại nguyện.

Cụ Cương kể, tục thờ quan Hoàng Thạch tại làng Địch Vĩ có từ hơn 400 năm nay. Tục này xuất phát từ truyền thuyết liên quan đến nỗi oan tình trời xanh không thấu của một chàng trai tên Hoàng Thạch.Tích xưa kể rằng, thủa trước, có 2 anh em nhà nọ, người anh tên là Ngọc Trì, người em tên là Hoàng Thạch. Người anh ra trận đánh giặc, giao lại công việc nhà cửa cho người em trông nom. Đến khi đánh giặc trở về, người anh thấy vợ mình có thai, nên nghi cho người em đã làm điều bất chính với chị dâu. Trong lúc bực tức, người anh giận dữ chém chết người em rồi mang xác vứt xuống sông. Đến khi sinh nở, vợ người anh lại sinh ra một vật quái dị. Đến lúc này, người anh mới hay biết rằng em bị hàm oan. Về phần người em, sau khi chết, xác hóa thành khối đá, trôi dạt về khúc sông đầu làng Địch Vĩ.

Bên cửa đình, cụ Cương nhấp chén trà, giọng trầm ngâm, kính cẩn kể lại: “Theo các cụ truyền lại, ban đầu người dân thôn Thọ Xuân, sai trai làng ra vớt lên, nhưng dù cố gắng bao nhiêu cũng không thể nhấc pho tượng đá này lên bờ. Về sau, bức tượng đá trôi dạt về thôn Địch Vĩ, điều kỳ lạ là lúc này, chỉ cần vài cụ cao niên trong làng ra cũng có thể nhấc bổng bức tượng lên khỏi mặt nước”.

Kể từ đó, “ngài chó đá” được dân làng gọi bằng là Ông quan lớn hay Quan Hoàng Thạch. Quan Hoàng Thạch làng Địch Vĩ được dựng hướng về Hát Môn, cũng chính là hướng về quê hương vì lẽ đó. Cũng từ đó đến nay, làng Hát Môn và Địch Vĩ kết nghĩa anh em, theo giao kết, trai gái trong làng không được phép yêu nhau.

Trong tâm thức của người dân thôn Địch Vĩ ngàn đời nay, ông Hoàng Thạch như một vị thần phù trợ cho dân làng được mạnh khỏe, bình an, mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi này nở. Đến tận ngày nay, dân làng Địch Vĩ vẫn truyền tai nhau những câu chuyện về tính linh thiêng, cầu được ước thấy đến tâm phục khẩu phục nơi cửa quan Hoàng Thạch. Bởi vậy, mà trong làng, nhà nào có công to việc lớn, cưới hỏi đều biện lễ ra trình Ngài để được che chở, may mắn. Những đám hiếu trong làng, hễ đi qua chỗ Ngài ngự, đều nghiêng mình kính cẩn, tạm ngưng lễ nghi, khóc lóc cho đến khi đi khuất hẳn.

Giống như Địch Vĩ, hiện nay, ở Phủ thờ quận công Nguyễn Ngọc Trì làng Hát Môn, xã Hát Môn, (Phúc Thọ, Hà Nội, cũng có 4 con chó đá, 2 con nghê đá được đặt trước và sau phủ, gọi là thạch cẩu. Trước tượng chó đá có bát hương để thờ.

Không chỉ ở chốn thôn quê, ngay đất kinh kỳ cũng vẫn giữ tục thờ chó đá như đền Cẩu Nhi bên hồ Trúc Bạch, Tây Hồ, Hà Nội.

Trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, Đào Duy Anh có viết: “Xưa kia, cửa ngõ thường không làm đúng chính giữa nhà và sân để cho người ngoài đứng nhìn thẳng vào trung tâm nhà. Người ta cũng thường kiêng không để có con đường đâm thẳng vào nhà, hay có đền, chùa ở trước cửa nhà. Nếu bất đắc dĩ, không tránh được những điều kiêng kỵ ấy, người ra sẽ chôn trước nhà một con chó đá hay 1 chiếc gương trước cửa để yểm tà”.

Còn theo TS Dương Văn Sáu, Trưởng Khoa Văn hóa du lịch trường ĐH Văn hóa Hà Nội, chó là loài động vật được thuần dưỡng từ sớm, để canh gác, xua đuổi những đối tượng lạ thâm nhập, giữ bình an cho dân làng. Trong tín ngưỡng, tâm linh, người ta còn tin rằng, chó có thể canh giữ, xua đuổi tà ma vào ban đêm. “Từ rất xa xưa, người Việt đã có tục thờ chó đá trước đền miếu, đình, điện, hay đặt chó đá trước cửa các gia đình quyền quý, cổng làng, các khu mộ của người quyền quý, mang ý nghĩa bảo vệ, canh gác phần âm. Với người Việt, khi tạc hình tượng chó đá để thờ, luôn tạc tượng theo tư thế ngồi, chống 2 chân trước vừa nhằm tạo dáng về mặt điêu khắc nghệ thuật, bên cạnh đó, còn thể hiện ước vọng của nhân dân. Bởi nếu chó đứng 4 chân, có nghĩa là đang trong tư tế đối mặt với kẻ thù. Nhưng nếu chó ngồi, thì chỉ mang ý nghĩa tượng trưng chứ không phải đang thực thi nhiệm vụ. Như vậy, tư thế của chó đá còn thể hiện mong muốn về sự bình yên, không có tà ma, thế lực xấu đến quấy nhiễu”, TS Dương Văn Sáu lý giải.

TS Dương Văn Sáu cho biết thêm, ngoài người Kinh, các dân tộc khác cũng có tục thờ chó đá. Phổ biến như người Nùng, Tày, Dao…Đặc biệt, trong văn hóa của người Dao, chó còn được coi như vật tổ, gọi là Bàn Vương.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here