liệt sỹ

HỒN LIỆT SĨ Theo quan niệm duy tâm con người có hai phần hồn và xác. Cụ Nguyễn Du viết rằng “thác là thể phách, còn là tinh anh”. Cứ theo lẽ ấy mà suy thì những người lính chết trận thân xác có thể đã tan vào cỏ cây sóng nước…, nhưng linh hồn thì bất tử. Những linh hồn ấy đang hiện hữu và dõi theo cuộc sống. Khi ôm súng lao vào lửa đạn, biết là dễ chết, nhưng những người lính đều tin rằng hành động của mình là để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiến tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Thế nên những kẻ phản bội lí tưởng, ăn trên xương máu đồng đội, trắng trợn thực hiện chế độ thế tập cha truyền con nối, chiếm đoạt quyền lực để “ăn không từ thứ gì”… đều không thoát khỏi sự giám sát và trừng phạt của hồn liệt sĩ. Nhân ngày 27/7, xin đưa lại bài bút kí viết về người chú đã hi sinh năm 1970.


Cưới vợ chưa được hai tháng thì chú tôi có lệnh nhập ngũ. Bà tôi bảo: “Để mẹ ra xã xin cho con hoãn, đợi vợ con có chửa…” Nhưng chú trả lời: “Con mà chui nhủi ở nhà thì nhục lắm!”Chú nói thế vì không muốn giống một người trong làng. Người đó đã mau mắn nhập ngũ, hăng hái huấn luyện tân binh, náo nức nhận quân trang đi B, nhưng nhận xong là chuồn. Về quê, anh chấp nhận bị phạt nhốt trong nhà kho, cam chịu đeo tấm bảng “AI CŨNG NHƯ TÔI THÌ MẤT NƯỚC” trước ngực đi diễu khắp làng trên xóm dưới, để rồi sau khi được giáo dục thì lại vui vẻ nhập ngũ, rồi lại đào ngũ… Mỗi lần “B quay” như thế anh đều giữ một chiếc bát sắt B52 trong nhà làm kỉ niệm. Thanh niên làng thừa biết anh đang dùng bài “câu giờ” để giữ mạng sống (sự thực, khi anh “tích luỹ” được chiếc bát sắt thứ 13 thì Sài Gòn giải phóng), nhưng họ đã không làm theo.

Chú tôi huấn luyện tân binh ở Nho Quan, Ninh Bình. Trong thời gian đó, bà tôi đã cơm đùm cơm vắt dắt thím tôi lặn lội gần trăm cây số dưới bom Mỹ tới thăm. Bà tôi cũng như muôn vạn bà mẹ Việt Nam, luôn khát cháy một đứa cháu trước khi tiễn con ra trận. Rủi thay, bà và thím tới đúng dịp đơn vị hành quân dã ngoại. Hai mẹ con đành dắt díu nhau về mà nuối tiếc cho sự nhỡ nhàng…

Tin chú tôi hi sinh bay về làng cuối năm 1970 khiến bà tôi khóc đến chết đi sống lại. Chưa kịp hoàn hồn bà lại nhận tiếp tin chồng cô tôi hi sinh năm 1972. Nỗi đau mất con trai con rể chưa qua, nỗi đau mất con dâu ập tới. Nhìn con dâu còn đầu xanh tuổi trẻ, bà tôi lúc ngọt nhạt dỗ dành, khi phũ phàng nghiến răng đuổi thím về nhà mẹ đẻ. Đoạn tang, thím đội một mâm lễ đến cúng chú tôi để đi bước nữa. Khi mâm lễ vừa đặt lên bàn thờ, bà tôi ngã vật ra nhà, ngất xỉu. Tỉnh dậy bà tôi hực lên bắt đốt tất cả những gì liên quan đến chú, từ áo quần, chăn chiếu, thư từ cho đến cả giấy báo tử…

Lớn lên cháu đi tìm chú về cho bà nhé!”, đó là câu nói bà tôi luôn kết thúc sau mỗi lần kể chuyện về chú Bội. Tôi “vâng” cho bà yên tâm, nhưng trong lòng hoang mang tự hỏi, biết tìm chú bằng cách nào? Có lẽ bà tôi cũng ý thức được việc tìm kiếm là rất khó khăn nên thường dành những đồng tử tuất ít ỏi của chú cho tôi mua sách vở. Bà muốn tôi ăn học nên người để có thể đi xa vào “mặt trận phía Nam” như giấy báo tử đã ghi. Đồng tiền tuất cuối cùng tôi nhận từ tay bà vào tháng 6 năm 1988. Sau đợt huấn luyện tân binh ba tháng, tôi tranh thủ thăm nhà trước khi bước vào cuộc hành quân mang mật danh 4 – 87. Hôm ấy trời nắng to. Bà tôi đã 73 tuổi nhưng vẫn còng lưng dùng nạng gẩy rơm đầu ngõ. Khi tôi chào, bà giương đôi mắt mờ đục nhìn tôi hỏi: “Cháu đi đâu?” Tôi không dám nói thật về sự kiện ngày 14 tháng 3 năm 1988, một hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa bị cướp, đơn vị tôi được lệnh hành quân gấp vào duyên hải miền Trung để chặn một nguy cơ đổ bộ đường biển. Tôi nói dối: “Cháu đi miền Nam mang chú về bà ạ!” Bà tôi bỗng đứng thẳng lưng như chưa hề bị còng, những giọt mồ hôi chảy vằn vèo theo những nếp nhăn hằn sâu trên mặt bà rồi nhỏ thon thót xuống đường rơm bầng bầng nắng xối. Bà hấp tấp giở bao tượng đưa cho tôi tờ 200 đồng: “Cháu cầm tiền mà đi đường”. 200 đồng ngày ấy đủ mua một cây mía. Tôi cầm tờ bạc bước vội vì không muốn khóc trước mắt bà.

Tôi đi được hai tháng thì bà tôi ốm nặng. Bà vật vã suốt một tháng trời, miệng liên hồi gọi tên tôi. Tôi biết bà mong tin tôi và chú tôi lắm lắm. Bà đâu hiểu rằng một chú lính binh nhì còn đầy vụng dại như tôi khi ấy thì làm được gì. Mãi tới khi mẹ tôi nói: “Bà cứ yên lòng mà đi cho thanh thản, rồi con và cháu sẽ có trách nhiệm đưa chú nó về” thì bà mới từ từ nhắm mắt.

Mẹ tôi hứa với bà không đơn thuần vì trách nhiệm dâu trưởng, mà còn vì tình cảm của mẹ dành cho chú. Mẹ hay mang chuyện ứng xử của chú ra để dạy chúng tôi. Chú là con út, theo lẽ thông thường sẽ được chiều chuộng, bù trì. Khi cưới vợ cho chú xong, bà muốn cho chú ở riêng để hai vợ chồng son xây dựng cơ nghiệp, nhưng chú bảo: “Bố mất sớm, mẹ già rồi, anh chị em đông, các cháu còn nhỏ, vợ chồng con ở riêng thì những việc nặng ai làm?” Lần sinh chị Lý, ở cữ chưa tròn tháng mẹ tôi đã phải vùng dậy nhao ra đồng mò cua bắt tép. Chú đã giằng lấy chiếc dủi trong tay mẹ: “Chị mới sinh dậy, đằm nước sớm sản hậu thì chết”. Chú bắt mẹ tôi về, còn chú ì ọp suốt từ gà gáy canh ba cho đến khi mặt trời đứng bóng, chiếc giỏ năm cân nặng đầy tôm cá chú mới chịu dừng.

Mẹ tôi tả: “Dầm nắng dầm sương như thế nên nước da chú mày đen lắm. Đen nhưng giòn. Mỗi khi chú mày cười thì chỉ thấy hàm răng trắng sáng lên thôi!” Ngày nhập ngũ, chú dặn mẹ tôi: “Anh chị ở nhà trồng cho em vườn xoan, khi nào thống nhất em sẽ về làm nhà.”Khi tôi lớn, vườn xoan ấy đã thành cổ thụ.

Mỗi khi nhìn vườn xoan rầu rĩ trút lá mùa đông, mẹ lại thở dài bảo tôi: “Con phải tìm mang chú về!

***

Tôi bắt đầu đi tìm chú tôi vào năm 1991, khi vừa 21 tuổi và đã đeo quân hàm thiếu uý. Tìm để bà tôi yên lòng nơi chín suối và giải toả nỗi khắc khoải của những người còn sống.Tôi đã đến các nghĩa trang Tân Cảnh, Kon Tum, Pleiku, Trường Sơn, Đường 9…

Tôi đã vào những nhà bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ ở các trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn… Nghĩa trang nào cũng mộ mộ ngút ngàn. Nhà bia nào cũng tên tên dằng dặc…

Vạn thân rải rác rừng xa
Vạn linh hồn tụ một nhà cùng nhau
Vạn dòng tên khắc, đá đau…

Mỗi khi dò theo những dòng chữ trên bia đá, tôi luôn cảm thấy lạnh buốt đầu ngón tay. Toàn những người trẻ, tuổi trên dưới 20. Cái tuổi 20 đẹp đẽ đã ngưng lại, đã hoá thạch trong tâm khảm của những người còn sống. Mỗi khi đứng lặng trong khói hương, mắt tôi luôn luôn bị cay nhoè. Và nhìn thấy những dòng tên khắc trên đá cứ rùng rùng chuyển động. Như một đoàn người…

Đá già ôm vạn tuổi son
Thiên thu hồn lính vẫn còn hành quân…

Đó là những câu buột ra trong một phút tôi bần thần đứng trong Nhà tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Sư đoàn 10, một sư đoàn bộ binh chủ lực chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên trong những năm chống Mỹ. Chỉ một sư đoàn đã có 10.000 liệt sĩ. Vậy ở hàng chục, hàng trăm đơn vị khác ở các quân binh chủng, quân đội ta có bao nhiêu liệt sĩ? Bao nhiêu liệt sĩ đã được đưa vào nghĩa trang và còn bao nhiêu liệt sĩ chưa tìm thấy mộ?

Trong cuộc kiếm tìm mộ chú, tôi đã có một ý niệm đầy đủ về nỗi mất mát. Nỗi mất mát hiện hữu cụ thể trong tâm thế của một thân nhân liệt sĩ. Chỉ một chú tôi không về đã để lại một nỗi đau trĩu nặng khôn nguôi qua ba thế hệ. Có hàng triệu gia đình như gia đình tôi… Thử nhân nỗi đau ấy lên một triệu lần… Để có được thống nhất như hôm nay, đất nước đã phải trả một cái giá bằng máu xương quá lớn!

Tôi đi tìm chú tôi, người chú ruột mà tôi chưa được một lần gặp mặt.

Tấm ảnh duy nhất của chú nhỏ bằng chiếc tem thư chụp giữa chiến trường đã mờ phai, tôi phải dùng Photoshop chỉnh sửa, phóng to để đưa lên báo, lên truyền hình, lên cả Internet kèm những dòng tin kiếm tìm tha thiết. Nhưng những dòng tin ấy đã bị chìm hút vào vô vàn thông tin bát nháo thời buổi kim tiền.

Tôi đã tìm gặp hàng chục cựu chiến binh đi cùng đợt chú tôi để dò hỏi, chắp nối theo lộ trình hành quân của những người lính đi B năm 1969… Cho đến tận cuối năm 2006 tôi mới tạm thời xác định được chú tôi hi sinh tại mặt trận Quảng Nam. Tôi đã cùng nhà báo Lê Anh Dũng, phóng viên báo Quân đội nhân dân thường trú tại Đà Nẵng lục lọi chồng hồ sơ liệt sĩ cao ngất tại Phòng Chính sách Quân khu 5. Và tôi đã reo lên khi tìm thấy tên chú tôi. Mọi thông tin về quê quán, cha, mẹ, vợ, ngày tháng nhập ngũ, hi sinh… đều chính xác. Hồ sơ cũng ghi rõ chú tôi hi sinh tại huyện Bắc Trà My. Tôi hấp tấp định bắt xe đi Bắc Trà My ngay.

Nhưng những người ở Phòng Chính sách Quân khu 5 đã nhắc tôi: Phải tìm theo quy trình. Nghĩa là phải lần từ gốc đến ngọn hồ sơ. Việc tiếp theo là phải xuống Sở Lao động – Thương binh – Xã hội tỉnh Quảng Nam, rồi Ban Chính sách tỉnh đội Quảng Nam… Tôi đành bắt xe từ Đà Nẵng về Tam Kỳ, nhưng đến nơi mới ớ người nhớ ra đã là ngày 29 Tết. Tôi đành phải bồn chồn nằm chờ suốt cái Tết năm 2007 để đợi đến sớm mồng 6 là ào đến các cơ quan. Tôi nhớ như in khung cảnh ở Sở Lao động – Thương binh –Xã hội Quảng Nam lúc ấy. Trong phòng vẫn còn những cành mai chưa tàn, những chai rượu chưa uống, những đĩa kẹo chưa ăn… Không khí Tết còn vấn vương từng khuôn mặt trong ngày làm việc đầu năm. Sự “xông đất” của tôi trong khung cảnh ấy rất đáng ngại. Nhưng những người làm công tác thương binh liệt sĩ đã quá quen với tình huống kiểu này nên họ vui vẻ kết thúc bữa tiệc tân niên để bắt tay vào công việc.

Nhưng, sự nhiệt tình của họ và bao công sức của tôi đã rơi vào ngõ cụt. Danh sách mộ chí nghĩa trang Bắc Trà My và tất cả các nghĩa trang khác của tỉnh Quảng Nam đều không có tên Đỗ Viết Bội. Như vậy là chú tôi vẫn còn nằm ở rừng. Mà rừng thì mênh mông thế…

Tôi thất thểu bước ra bến xe mà vẫn ngoái đầu bái vọng về phía núi rừng Trà My xanh thẳm. Hoàn cảnh này chỉ còn trông vào con đường tâm linh, may ra…

Tôi đã nhờ nhà báo Hoàng Anh Sướng liên hệ với hai nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng và Vũ Minh Nguyệt ở Hà Nội, đã cùng nhà văn Sương Nguyệt Minh lặn lội vào tận Bà Rịa – Vũng Tàu gặp cô Năm Nghĩa. Nhưng tất cả những cuộc tiếp xúc của tôi với các nhà ngoại cảm đều không kết quả. Vậy là hết cách.

Ngày 27- 7 năm nay tôi về quê. Mẹ tôi đi dự họp ngày Thương binh liệt sĩ ở xã về thì sụt sùi đặt gói quà lên bàn thờ cúng chú. Tôi khi ấy không hiểu sao buột miệng: “Mẹ khấn chú có linh thiêng thì mách bảo cho cháu biết chỗ chú nằm để cháu đưa chú về.” Ngoài ý nghĩa cầu mong, câu nói còn là một thông báo cho mẹ tôi hiểu, cuộc kiếm tìm gần hai mươi năm ròng rã của tôi đã thất bại.

** *

Một buổi sáng, khi tôi đang mải việc cơ quan thì anh Ký – anh cả tôi điện thoại nói chú về ngay. Tôi tức tốc bổ về quê. Anh Ký đưa cho tôi một lá thư ngắn được viết bằng những lời gan ruột: “… Tuy không chắc lá thư này tới được địa chỉ cần tìm, nhưng tình nghĩa người lính, lương tâm của người còn sống sau chiến tranh không thể làm ngơ trước sự hi sinh mất mát của các anh và gia đình. Tôi đã tìm thấy mộ liệt sĩ Đỗ Viết Bội. Xin gia đình liên hệ với tôi theo địa chỉ ông Mai Lệ…, điện thoại…

Trời ơi! Sau bao nhiêu thông tin phát đi không có phản hồi, cuối cùng tôi lại có được một thông tin vàng vào đúng lúc không còn hi vọng. Tôi vội vàng bấm máy. Một giọng nói trầm tĩnh vang lên: “Muốn hỏi về mộ liệt sĩ thì phải mang theo giấy báo tử và giấy giới thiệu của xã!

Sáng sau anh em tôi lên đường. Qua một hồi kiểm tra giấy tờ, ông Mai Lệ mới trao bản sơ đồ có mộ chú tôi được đánh số 15 kèm một tấm bản đồ địa hình huyện Bắc Trà My do quân đội Mỹ chụp thời chiến, trong đó các địa danh được chú thích rất rõ ràng. Với chừng đó tài liệu, tôi có thể một mình vào nơi cần tới. Nhưng tôi đã ngỏ ý nhờ ông Mai Lệ dẫn đường. Không một giây lưỡng lự, ông đồng ý ngay.Sở dĩ tôi nhờ ông Mai Lệ đi cùng là vì muốn biết nhiều hơn về cuộc sống chiến đấu của chú tôi trên địa bàn Quảng Nam. Hai nhà văn Sương Nguyệt Mình và Nguyễn Thế Hùng nghe tin đã sẵn sàng nhập cuộc. Mẹ tôi năm nay đã ngoài 70 những cũng nằng nặc đòi theo.

** *

Suốt chặng đường hơn ngàn cây số, ông Mai Lệ ít nói. Tâm trí ông luôn đắm chìm vào một miền xa xăm nào đó, ánh mắt khi nghiêm nghị, lúc vợi buồn, rồi thảng thốt. Thái độ của ông khiến chúng tôi rất khó hiểu. Chỉ khi vào tới Bắc Trà My thì mọi sự mới rõ dần.Một không gian rừng núi mênh mông, dân cư thưa thớt. Thời chiến tranh nơi đây dân phiêu dạt hết bởi bom pháo giặc mặc sức oanh tạc, “tàu rọ” (trực thăng UH1B) lượn nghênh ngang suốt ngày tìm bắt người. Chỉ có một người đàn bà đứng tuổi dám ở lại dựng một căn nhà tại ngã ba tự nguyện làm người chỉ đường, lo cơm nước cho bộ đội giữa những tháng năm ác liệt nhất. Người đàn bà ấy được bộ đội yêu mến kính trọng lấy tên đặt cho một ngã ba – Ngã Ba Bà Thế. Ngã Ba Bà Thế trở thành một “binh trạm”, một điểm hẹn cho bộ đội chiến đấu ở vùng này.

Ông Mai Lệ nguyên cán bộ Tiểu đoàn 409 đặc công Quân khu 5, đã nhiều lần dẫn quân qua Ngã Ba Bà Thế. Những trận đánh xuất quỷ nhập thần của tiểu đoàn 409 khiến lính Mỹ nghe đến “đặc công Việt Cộng” là run sợ. Tháng 12/1970, Tiểu đoàn 409 tập kích căn cứ Trà Đốc. Trận đánh thắng lợi nhưng cũng có tổn thất. Những người hi sinh được mai táng tại chỗ. Những người bị thương được đưa về bệnh xá CK.130 cứu chữa nhưng có hai người không qua khỏi. Ông Mai Lệ đã tìm đến tận bệnh xá để vẽ sơ đồ mộ chí khu nghĩa trang tỉ mỉ, rồi gạt nước mắt trở về đơn vị hẹn ngày quay lại.

Nhưng…

Một trận bom B52 đã rải thảm trúng bệnh xá CK.130. Mấy trăm người cả y bác sĩ và thương bệnh binh thịt xương tan nát. Khu nghĩa trang của bệnh xá cũng bị bom xới nhào lẫn lộn. Sau giải phóng ông Mai Lệ đã nhiều lần tìm về chiến trường xưa. Và tháng 3/2009, dù đã ở tuổi 73, ông quyết định phải quay lại Bắc Trà My một lần nữa. Các địa danh hầu hết đã thay đổi, xã Đông Phong đổi thành Trà Phong, thôn Phương Đông đổi thành Thanh Trước…, nên hỏi dân không ai biết. Vậy mà thật lạ kì, khi ông hỏi Ngã Ba Bà Thế thì dân chỉ ra ngay.

Tại ngã ba này, khi ông Mai Lệ đang còn ngẩn ngơ trước cảnh đổi thay thì một cháu bé chừng 12 tuổi chạy ra lễ phép hỏi: “Ông ơi ông đi mô rứa?” “Ông đi tìm đồng đội cháu ạ!” “Ông ơi, thế thì ông theo con!

Cháu bé tên Trần Thị Chinh ấy đã đưa ông Mai Lệ về nhà rồi quày quả đạp xe đi chợ, làm cơm. Chiều ấy cháu dẫn ông Mai Lệ lên trang trại nhà mình.

Trang trại của ông Trần Văn Cẩm nguyên là khu nghĩa trang bệnh xá CK.130. Sau giải phóng, khu rừng này đã hàng chục lần bị cháy. Chính quyền huyện Bắc Trà My bèn giao cho dân tự quản. Khi dọn rừng trồng cây, ông Cẩm đã phát hiện ra khu mộ 32 ngôi vẫn còn nguyên nấm. Biết là mộ liệt sĩ nhưng không biết tuổi tên quê quán, ông Cẩm đành chỉ biết thành tâm nhang khói… Khi đối chiếu vị trí khu mộ còn sót lại sau trận bom với sơ đồ của mình, ông Mai Lệ đã mừng rơi nước mắt vì nhận ra hai ngôi của lính tiểu đoàn 409.

Từ Quảng Nam trở về chuyến ấy, ông Mai Lệ đã viết hàng trăm lá thư gửi đi khắp nơi. Lá nào ông cũng cẩn thận dán bằng băng keo màu đen kèm dòng chữ kính cẩn “Thư tìm thân nhân liệt sĩ.” Nhưng thật buồn, những lá thư ấy phần lớn bị trả về. Lí do đơn giản là một số làng xã đã đổi tên. Đổi tên chứ không phải xoá tên. Chả hiểu nhân viên ở các bưu điện huyện tỉnh có được học về lịch sử hành chính hay không mà tại nhà ông Mai Lệ tôi thấy một chồng thư bị trả lại đều có một mũi tên ngoằng từ phần người nhận về nơi người gửi với dòng chữ bàng quan vô cảm “Không có địa chỉ này.” Thật may, lá thư thứ 3 ông Mai Lệ gửi UBND xã Tụy An (nay đổi là xã Tốt Động) đã đến được nhà tôi.

** *

Chú tôi nằm cạnh một khối đá to bên bờ con suối nhỏ, xung quanh là những hố bom sâu hoắm. Khi tôi cắm nén nhang lên mộ, một luồng điện tê rần chạy suốt từ ngón đến cánh tay. Tôi suýt oà khóc như một đứa trẻ vừa tìm thấy cha mình sau 40 năm lưu lạc, nhưng tôi đã kịp kìm lòng, vội vã lên cơ quan huyện đội làm thủ tục cho việc cất bốc.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh sau một hồi trò chuyện thì tỏ ý băn khoăn. Tại sao khu mộ được phát hiện đã mấy năm mà không đưa vào nghĩa trang liệt sĩ? Để anh em nằm thêm một ngày ngoài rừng là có lỗi! Khi nghe những lời chất vấn ấy, khuôn mặt thượng tá Trương Kim Thường, Chính trị viên huyện đội Bắc Trà My tỏ ra bối rối. Anh lẳng lặng triển khai đơn vị bảo đảm vật dụng cho việc cất bốc rồi quay lại nói với nhà văn Sương Nguyệt Minh: “Câu hỏi của anh tôi xin trả lời vào sáng ngày mai.”

Chúng tôi ghé xe qua chợ sắm lễ. Khi hương hoa, bánh kẹo, trái cây… đã đủ, ông Trần Văn Cẩm mới ghé tai tôi nói nhỏ: “Anh phải mua thêm một tấm bạt.” Tôi hỏi: “Để làm gì?” Ông nói ngập ngừng: “Không có bạt là… không được đâu…”Tấm bạt ấy được phủ lên mộ chú tôi sau khi làm lễ, rồi chèn đá bốn góc, để qua đêm.

Tinh mơ hôm sau, nhà văn Sương Nguyệt Minh cầm cuốc mở mộ. Nhưng mới cuốc được mấy nhát thì ông Trần Văn Cẩm đã bảo tới rồi đấy.Tôi chăm chắm nhìn vào lòng hố nông chừng 30 phân. Chưa thấy gì ngoài những rễ quế rễ tràm xiên dọc xiên ngang.

Chú tôi đâu? Ông Trần Văn Cẩm và hai cụ già tình nguyện phải thận trọng dùng thìa nạo từng muỗng đất nhỏ. Rất lâu sau ông Cẩm mới đưa tay huơ theo lòng hố hình chữ nhật nói nhỏ: “Đây!”

Chú tôi đây ư? Căng mắt nhìn tôi mới thấy một lớp đất đen mờ mờ dáng người nằm. Phần đầu nhìn rõ hơn, là một vòng tròn màu sẫm…

Đến lúc này thì tôi đã hiểu vì sao phải phủ bạt qua đêm trên mộ. Nếu không làm thế sương sẽ thấm xuống, độ ẩm sẽ làm tan nốt lớp đất đen mỏng mảnh đến mơ hồ này, lớp đất thiêng quý đối với gia đình tôi mà những cụ già Quảng Nam đã phải tỉ mỉ lắm mới gom lại được. Cũng đến lúc này thì điều thắc mắc của nhà văn Sương Nguyệt Minh đã được thượng tá Trương Kim Thường giải đáp: “Ba năm qua, trên địa bàn huyện Bắc Trà My đã phát hiện được 76 ngôi mộ liệt sĩ. Huyện đội đã tiến hành cất bốc một vài ngôi, nhưng… như các anh thấy đấy. Hài cốt đã tan hết mà cứ chuyển đi chuyển lại… Đau lòng lắm! Chúng tôi đành giữ nguyên rồi tìm cách thông báo cho gia đình để đưa liệt sĩ về thẳng quê nhà”.

Từ lúc mở mộ, mẹ tôi nhắm mắt tụng một bản kinh dài, khi mở mắt ra chỉ nhìn thấy một nhúm đất nhỏ nhoi được đưa lên thì bất thần kêu lên một tiếng “Ối em ơi!” rồi ngã vật ra rừng khóc lịm. Mẹ tôi trông đợi nhiều hơn thế. Một mảnh vải, một chiếc thắt lưng, một đôi dép cao su chẳng hạn…

Nhìn ánh mắt đau đến dại đi của mẹ tôi, ông Mai Lệ nói ngạt ngào: “Lính đặc công vào trận chỉ mang quần cộc và giày vải… Khi khiêng Bội về bệnh xá, dân công còn xin Bội đôi giày để đi khiêng tiếp những thương binh khác…

Câu nói của ông Mai Lệ đủ để tôi hình dung ra độ khốc liệt của chiến tranh nơi đây. Giặc vây hãm, đánh phá, mọi thứ đều thiếu thốn. Người sống thiếu thốn đã đành, đến người chết cũng không có tấm tăng để liệm. Mình trần nằm giữa đất nông qua 40 năm trời mưa nắng, qua hàng chục trận cháy rừng thì hỏi còn gì?!

Tôi ngồi thừ nhìn dòng suối buổi sớm còn bốc hơi mờ mịt. Một vùng cỏ mọc xanh rì/ Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu, câu Kiều mà bà tôi bói trúng hơn hai mươi năm trước bỗng trở về trong tôi bất giác. Tôi đã từng theo chân những đội quy tập của Quân đoàn 3, Quân khu 4, Quân khu 5… nên đã chứng kiến rất nhiều ngôi mộ như mộ chú tôi.

Áo bào thay chiếu anh về đất… “Về đất”…

Ôi câu thơ bi tráng của thi sĩ xứ Đoài! Tôi đốt một bó nhang to, định cắm lên mỗi ngôi mộ một nén thay lời chia tay của chú tôi với những người nằm lại. Nhưng thật lạ kì, trong không khí ướt sũng sương mai, không có gió mà bó nhang bất ngờ phực cháy bừng bừng không thể nào dập nổi. Tôi hoảng hốt chạy khắp khu rừng quay bó lửa khắp và thầm khấn trong đầu: “Cháu biết còn rất nhiều cô chú đang nằm ở khu rừng này nên sẽ là không phải nếu chỉ thắp nhang trên những ngôi mộ có nấm. Cháu sẽ cố gắng tìm cách để thông tin cho gia đình các cô các chú biết mà tìm đến đây…

Trong số 32 ngôi mộ ở trang trại nhà ông Trần Văn Cẩm đã có 8 ngôi được gia đình đưa về quê. Còn 6 ngôi đã xác định được tên tuổi, quê quán liệt sĩ:

1- Nguyễn Văn Thế, xã Kim Đa, huyện Thanh Oai, Hà Tây.
2- Nguyễn Thanh Quyết, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc.
3- Kiều Cao Quý, xã Duy Ninh, huyện Duy Tiên, tỉnh Nam Hà.
4- Nguyễn Bá Trường (Tường?), xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
5- Nguyễn Văn Sắn, xã Hiệp Hoà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
6- Nguyễn Văn Rạng, xã …(?), huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Tôi xin được chép ra đây bởi nghĩ rằng, một người làm báo có điều kiện đi nhiều như tôi mà việc kiếm tìm còn gian nan như vậy, huống hồ những người nông dân cả đời chỉ quen với ruộng đồng. Nếu ai biết thân nhân các liệt sĩ có tên trên xin báo để gia đình liên lạc với ông Mai Lệ, thôn Nghiêm Xá, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, điện thoại 0241. 3882424, di động 0168.4887.402; hoặc ông Trần Văn Cẩm, thôn Thanh Trước, xã Trà Đông, huyện Bắc Trà My, điện thoại 05106293442.

***

Lượt đi, theo ý tưởng của nhà văn Nguyễn Thế Hùng, xe chạy dọc đường Trường Sơn, con đường mà chú tôi đã vượt bằng đôi chân dép lốp để tham gia cuộc trường chinh với lí tưởng thống nhất đất nước. Khi về, nhà văn Sương Nguyệt Minh bảo, phải đi theo Quốc lộ 1, con đường nối liền hai miền Nam – Bắc để chú tôi được thăm bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng, thành cổ Quảng Trị…, đặc biệt, khi về tới cầu Hiền Lương, giới tuyến 17, nơi chia cắt đất nước một thời, sẽ dừng lại chụp ảnh.

Cuộc trở về của chú tôi đúng ngày Quốc khánh, chặng đường hơn ngàn cây số từ thị trấn Bắc Trà My về tới Tốt Động rất nhiều cờ hoa. Cán bộ các ban ngành trong xã đã gác lại tất cả công việc để ra nghĩa trang liệt sĩ làm lễ truy điệu. Trong tiếng trống ếch thập thình của đội nghi thức thiếu nhi, những cựu chiến binh với lễ phục màu trắng đã nâng đón chú tôi rồi nhẹ nhàng đặt xuống đất quê nhà. Sau bốn ngày đêm vượt đường xa, trèo đèo lội suối, ăn ngủ thất thường, ông Mai Lệ gầy xọp đi, nhưng đôi mắt thì sáng hơn lên. Ông thắp hương trên mộ chú tôi rồi nói nhỏ: “Đưa được Bội về là tôi nhẹ lòng hơn rồi. Giờ tôi phải về ngay để kịp ngày mai đưa một gia đình ở Thái Bình đi…

Tôi nhờ một cụ vai vế trong họ đưa gói quà và có lời cảm ơn ông Mai Lệ. Ông nhận, nhưng lập tức đưa tay vào rút chiếc phong bì mà tôi đã khéo léo kẹp giữa những hộp bánh dập mạnh xuống bàn, nhìn xoáy vào mặt tôi. Ánh mắt ông sáng quắc như tóe lửa khiến tôi phải hoảng sợ cúi đầu. Tôi chợt nhận ra mình đã làm một điều dại dột. Tôi chưa hiểu được rằng suốt 40 năm qua, khi cả nhà tôi mong ngóng người thân thì ông cũng 40 năm đau đáu về những đồng đội vẫn nằm lại chiến trường. Tình nghĩa của những người lính chiến trong sáng thuỷ chung thiêng liêng là thế, vậy mà tôi, kẻ hậu sinh sống trong thời “văn hoá phong bì” đã vô tình xúc phạm. Tôi ngỏ lời xin lỗi ông, lời xin lỗi thành thực của một đứa cháu nông nổi. Ông Mai Lệ không nói gì, chỉ ngồi lặng nhìn lên tấm ảnh chú tôi sao mũ sáng ngời, nét mặt măng tơ phơi phới tuổi 20 ra trận. Ánh mắt ông buồn thật buồn…

Khi viết đến những dòng này, trong tôi lại trào lên cảm giác ân hận. Tôi bấm máy để hỏi thăm ông Mai Lệ. Một giọng nói trầm trầm lạc trong tiếng gió vi vút vọng về từ một miền rừng xa ngái: “Tôi đang đi tìm mộ liệt sĩ ở…

Bút kí . ĐỖ TIẾN THỤY

Hà Nội tháng 9/2009

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here